Thông báo khẩn cấp

          Kinh Thưa quí Vị Phât Tử  ,
Vừa qua, Email Chùa Phật Pháp bị “tin tặc ” xâm nhập và đã gởi những email có nội dung không thuộc về thông tin của Chùa Phật Pháp.
Có người đã lấy tên Chùa Phật Pháp SCAM lường gảt thiên hạ để lấy tiền.
  Chùng tôi xin  thành thật cáo lỗi và xin thông báo  đến quí vi..
                                     Chùa Phật Pháp
                                    Tỳ  Kheo Trí Tịnh                                                                                                                                                                                                                             
 Xin mờii quí vị xem   email sau :                                                      
 Looks like someone is running a scam using the Chua Phat Phap e-mail.  Please inform the 
Monk and others to be careful . This is a known scam.    
                        Regards, David L.
                                                              
From: Chua Phat Phap [mailto:chuaphatphap@yahoo.com]
Sent: Thursday, December 22, 2011 6:48 AM
To: undisclosed recipients:
Subject: Hi
Hope you get this on time, I made a trip to
Aberdeen,Scotland and had my bag stolen from me
with my passport,cash and credit cards in it.
unfortunately for me,i’v made contact with my
bank but they are not providing a fast
solution.i need you to lend me some money to
sort my self out of this predicament,i will pay
back as soon as i return.Western Uniono or Money Gram transfer is the
best option to send money to me. Let me know if
you need my details(Full names location) to make
the transfer. You can reach me via email or the
hotel’s desk phone the numbers are,
+447024024007
I await your response.
Thank
Chua Phat Phap
Southwest Florida Buddhist Temple
1770 62nd Avenue North
St. Petersburg, Florida 33702
(727) 520 – 9209

Tin ảnh Đại Hội GHPGVNTN kỳ 9 tại Chùa Điều Ngự

Tin ảnh Đại hội GHPGVNTN kỳ 9 tại Chùa Điều Ngự, Westminster California USA, ngày 18-20.11.2011

 

 

GIÁO CHỈ SỐ 14 CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG


GIÁO CHỈ SỐ 14 CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tấn phong nhân sự
Hội đồng Giáo phẩm Trung ương, Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo
Nhiệm kỳ 2011 – 2015

 

 

- Chiếu Hiến Chương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất được tu chính bởi Đại Hội Khóang Đại Kỳ IX ngày 12.11.2011.

 

- Chiếu Biên bản Đại hội bất thường GHPGVNTN, cung thỉnh, bổ sung, kiện toàn nhân sự Hội Đồng Lưỡng Viện, họp tại tu viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định vào các ngày 28-29-30/09 và 01/10/2003.

 

- Chiếu Thỉnh Nguyện Thư của Đức Phó Tăng Thống, Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác ký ngày 03.9.2011

 

- Chiếu Đại Hội Khoáng Đại Kỳ IX khai mạc tại chùa Giác hoa ngày 12.11.2011.

 

- Chiếu nhu cầu Phật sự, thỉnh cử, bổ sung, hoán chuyển và kiện toàn Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

 

- Vì mạng mạch trường tồn của Chánh Pháp, cung thỉnh chư tôn Trưởng Lão, Hoà Thượng, Thượng Toạ đăng lâm pháp tịch trong Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương, Viện Tăng Thống và Ban Chỉ Đạo Viện Hoá Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

 

 

GIÁO CHỈ

 

 

Điều 1 : Hội đồng Giáo Phẩm Trung Ương :

 

Trong nước: Ngoài nước:
Hòa Thượng Thích Quảng Độ

Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh

Hòa Thượng Thích Thích Như Đạt

Hoà Thượng Thích Liễu Minh

Hòa Thượng Thích Diệu Tánh

Hòa Thượng Thích Diệu Trí

Hòa Thượng Thích Minh Kiến

Hòa Thượng Thích Tâm Liên

Hòa Thượng Thích Nhật Ban

Hòa Thượng Thích Trừng Thể

Hoà Thượng Thích Không Tánh

Hòa Thượng Thích Thanh Quang

Hòa Thượng Thích Chí Thắng

Hòa Thượng Thích Thiện Tâm

Hòa Thượng Thích Đồng Tu

Hòa Thượng Thích Tâm Mãn

Hoà Thượng Thích Thành Đạt

Hoà Thượng Thích Tâm Trí

Hoà Thượng Thích Viên Định

Hoà Thượng Thích Như Tấn

Hoà Thượng Thích Chơn Niệm

Hoà Thượng Thích Nguyên Lý

Thượng Tọa Thích Chơn Tâm

Hòa Thượng Thích Hộ Giác 

Hòa Thượng Thích Chánh Lạc

Hòa Thượng Thích Huyền Tôn

Hoà Thượng Thích Trí Lãng

Hòa Thượng Thích Viên Thành

Hoà Thượng Thích Trí Minh

Hòa Thượng Thích Chơn Trí

Hoà Thượng Thích Thiện Hữu

Hòa Thượng Thích Thiện Tâm

Hoà Thượng Thích Huyền Việt

Hòa Thượng Thích Phước Nhơn

Hoà Thượng Thích Viên Lý

Thượng Toạ Thích Giác Đẳng

 

 

Điều 2 : Viện Tăng Thống :

 

Tăng Thống : Đại Lão Hoà Thượng Thích Quảng Độ
Phó Tăng Thống : Đại Lão Hoà Thượng Thích Hộ Giác
Chánh Thư Ký : Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh

 

Điều 3 : Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất :

 

Cố Vấn Ban Chỉ Đạo Viện Hoá Đạo :
Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh

Viện Trưởng : Hoà Thượng Thích Viên Định
Phó Viện Trưởng : Hoà Thượng Thích Chánh Lạc
Phó Viện Trưởng : Hoà Thượng Thích Như Đạt
Phó Viện Trưởng : Hoà Thượng Thích Viên Lý
Tổng Thư Ký : Hoà Thượng Thích Thanh Quang
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Tăng Sự : Hoà Thượng Thích Như Đạt (kiêm)
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Từ Thiện XH : Hoà Thượng Thích Không Tánh
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên : Hoà Thượng Thích Thanh Quang
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Kiến Thiết : Hoà Thượng Thích Chí Thắng
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp : Hoà Thượng Thích Như Tấn
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ : Hoà Thượng Thích Chơn Niệm
Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Giáo Dục : Thượng Tọa Thích Chơn Tâm
Tổng Thủ Quỹ : Hoà Thượng Thích Nguyên Lý

 

Điều 4 : Những điều khoản Giáo Chỉ và Văn kiện trái với Giáo Chỉ này đều hủy bỏ.

 

Điều 5 : Văn Phòng Viện Tăng Thống, Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo, Văn Phòng II Viện

 

Hóa Đạo chiếu nhiệm thi hành Giáo Chỉ nầy.

Thanh Minh Thiền Viện, ngày 12 tháng 11 năm 2011
Đệ Ngũ Tăng Thống
GHPGVNTN
(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

 

 

Bản sao kính gởi :

- Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN “đề kính thông tin”

- Đại diện Ngoại giao các quốc gia trên thế giới có cơ quan đại diện tại Hà Nội “để kính thông báo”

- Tổng thống, Thủ tướng và Bộ Ngoại giao các quốc gia có cơ sở hoặc thành viên thuộc Văn phòng II Viện Hóa Đạo cư ngụ “để kính thông báo và xin giúp đỡ”

- Giáo hội Tăng già Thế giới “để kính thông báo và liên hệ”

- Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới “để kính thông báo và kế thừa sinh hoạt”

- Các Giáo hội, Tổ chức, Đoàn thể Phật giáo tại các nước Á châu và trên Thế giới “để kính thông báo và liên hữu hoạt động”

- Văn phòng Viện Hóa Đạo “để tri trường và chuyển trình đến các Tổng vụ, các Ban Đại diện và Giáo hội các cấp trong và ngoài nước chấp hành”

- Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “để chuyển trình Chính giới, Bộ Ngoại giao các nước, và phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí”

- Lưu chiếu tại Văn phòng Viện Tăng thống.

 

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 16 CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG

QUYẾT ĐỊNH SỐ 16 CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suy cử thành phần nhân sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ
nhiệm kỳ 2011 – 2015

 

 

- Chiếu Hiến Chương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) được tu chính bởi Đại Hội Khóang Đại Kỳ IX ngày 12.11.2011.

 

- Chiếu Biên bản Đại hội bất thường GHPGVNTN, cung thỉnh, bổ sung, kiện toàn nhân sự Hội Đồng Lưỡng Viện, họp tại tu viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định vào các ngày 28-29-30/09 và 01/10/2003.

 

- Chiếu Đại Hội Khoáng Đại Kỳ IX khai mạc tại Chùa Giác Hoa Sài gòn ngày 12.11.2011.

 

- Chiếu Thư thỉnh nguyện của Đức Đại Lão Hoà thượng Thích Hộ Giác, Phó Tăng Thống GHPGVNTN về việc thỉnh cử, bổ sung, hoán chuyển hàng ngũ nhân sự GHPGVNTN-HN tại Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2011-2015.

 

- Chiếu nhu cầu Phật sự trước hiện tình mới.

 

Quyết Định

 

 

Điều 1 : Nay phê chuẩn thành viên nhân sự Hội Đồng Giáo Phẩm và Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ như sau :

 

Hội Đồng Giáo Phẩm :

 

Hòa thượng Thích Hộ Giác

Hòa thượng Thích Chánh Lạc

Hoà thượng Thích Viên Thành

Hòa thượng Thích Trí Lãng

Hòa thượng Thích Viên Thành

Hòa thượng Thích Chơn Trí

Hòa thượng Thích Thiện Hữu

Hòa thượng Thích Huyền Việt

Hòa thượng Thích Viên Lý

Cố vấn : Pháp sư Niên trưởng Thích Giác Đức

 

 

Hội Đồng Điều Hành :

 

Chủ tịch : HT. Thích Viên Lý

Phó Chủ tịch : HT. Thích Viên Thành

Phó chủ tịch : HT. Thích Thiện Hữu

Phó chủ tịch : HT. Thích Chơn Trí

Tổng Thư ký : TT. Thích Giác Đẳng

Phụ tá Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành kiêm Phó Tổng Thư ký : TT. Thích Viên Thông

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tăng sự : HT. Thích Thiện Hữu (kiêm)

Vụ Ni bộ : Sư Bà Thích Nữ Giác Hương

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục : TT Thích Viên Quang

Tổn g vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa : TT. Thích Giác Đẳng (kiêm)

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp : TT. Thích Quảng Long

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Cư sĩ : TT. Thích Viên Dung

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên : HT. Thích Huyền Việt

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Từ thiện Xã hội : HT. Thích Trí Lãng

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Kinh tế & Tài chánh : TT. Thích Viên Huy

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Nghi lễ : HT. Thích Viên Thành

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Kiến thiết : TT. Thích Thông Đạt

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Truyền thông : ĐĐ. Thích Trí Tịnh

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Ngoại vụ : Cư sĩ Võ Văn Ái

Tổng vụ trưởng Tổng vụ Pháp chế : Luật sư Ngô Quốc Lân

Tổng Thủ qũy : Sư Bà Thích Nữ Nguyên Thanh

Phó Tổng Thủ qũy : Ni sư Thích Nữ Tịnh Thường.

 

Điều 2 : Các điều khoản, Giáo Chỉ và văn kiện trái với quyết định này đều hủy bỏ.

 

Điều 3 : Văn Phòng Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo, Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, các Chánh, Phó Tổng thư ký, các Tổng Vụ chiếu nhiệm thi hành quyết định này.

 

Thanh Minh Thiền Viện, ngày 12 tháng 11 năm 2011

ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG

GHPGVNTN

(ấn ký)

Sa môn Thích Quảng Độ

 

 

Nơi nhận :

- Chư Tôn Giáo Phẩm Hội Đồng Lưỡng Viện

- Quí GHPGVNTNHN “ để liên lạc hổ trợ”

- Phòng Thông tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris “để phổ biến”.

 

 

QUYẾT ĐỊNH SỐ 15 CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG

QUYẾT ĐỊNH SỐ 15 CỦA ĐỨC ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất suy cử thành phần nhân sự
Văn phòng II Viện Hòa Đạo nhiệm kỳ 2011 – 2015

 

 

- Chiếu Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) được tu chính bởi Đại Hội Khoáng Đại Kỳ IX ngày 12.11.2011 ;

 

- Chiếu Hiến Chương GHPGVNTN, Chương IX, Điều thứ 36 qui định việc thiết lập Văn Phòng II VHĐ GHPGVNTN điều hành các chi bộ GHPGVNTN tại các quốc gia, châu lục Hải ngoại trực thuộc Viện Hoá Đạo ;

 

- Chiếu Biên bản Đại hội bất thường GHPGVNTN, cung thỉnh, bổ sung, kiện toàn nhân sự Hội Đồng Lưỡng Viện, họp tại tu viện Nguyên Thiều tỉnh Bình Định vào các ngày 28-29-30/09 và 01/10/2003.

 

- Chiếu Biên bản Đại Hội Khoáng Đại Kỳ IX khai mạc ngày 12.11.2011 tại chùa Giác Hoa, Sài gòn, về việc thỉnh cử, bổ sung, hoán chuyển hàng ngũ nhân sự GHPGVNTN ;

 

- Chiếu nhu cầu Phật sự trước hiện tình mới.

 

 

Quyết Định

 

Điều 1 : Thành phần Văn phòng II Viện Hóa Đạo được thỉnh cử như sau :

 

Chủ tịch : HT. Thích Chánh Lạc

Phó chủ tịch : Pháp sư Niên trưởng Thích Giác Đức

Phó chủ tịch : HT. Thích Trí Lãng

Phó chủ tịch : HT. Thích Trí Minh

Tổng Thư ký : HT. Thích Viên Lý

Tổng Ủy viên Hoằng pháp : HT. Thích Chánh Lạc (kiêm)

Tổng Ủy viên Kế hoạch : Pháp sư Niên trưởng Thích Giác Đức (kiêm)

Tổng Ủy viên Giáo dục : HT. Thích Chơn Trí

Tổng Ủy viên Truyền thông : TT. Thích Giác Đẳng

Tổng Ủy viên Thanh niên : HT. Thích Huyền Việt

Tổng Ủy viên Tài chánh kiêm Đặc trách liên lạc Úc châu : HT. Thích Phước Nhơn

Tổng Ủy viên Từ Thiện Xã Hội kiêm Đặc trách liên lạc Canada : HT. Thích Thiện Tâm

Tổng Ủy viên Đặc trách liên lạc Âu châu : HT. Thích Trí Minh (kiêm)

Tổng Ủy viên Ngoại vụ : Cư sĩ Võ Văn Ái

Tổng Ủy viên Đặc trách liên lạc Quốc tế : Cư sĩ Hồng Chi Ỷ Lan

Tổng Thủ bổn : Sư Bà Thích Nữ Nguyên Thanh.

 

Điều 2 : Các Điều khoản, Quyết Định và Văn kiện trái với Giáo Chỉ này đều huỷ bỏ.

 

Điều 3 : Quí vị Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Tổng thư ký, Tổng vụ trưởng, Vụ trưởng các Tổng vụ thuộc Viện Hóa Đạo, và các Hội đồng Điều hành Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại các châu lục hải ngoại chiếu nhiệm thi hành Giáo chỉ này.

 

Thanh Minh Thiền Viện, ngày 12 tháng 11 năm 2011

ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG

GHPGVNTN

(ấn ký)
Sa môn Thích Quảng Độ

 

 

Bản sao kính gởi :

- Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN “đề kính thông tin”

- Đại diện Ngoại giao các quốc gia trên thế giới có cơ quan đại diện tại Hà Nội “để kính thông báo”

- Tổng thống, Thủ tướng và Bộ Ngoại giao các quốc gia có cơ sở hoặc thành viên thuộc Văn phòng II Viện Hóa Đạo cư ngụ “để kính thông báo và xin giúp đỡ”

- Giáo hội Tăng già Thế giới “để kính thông báo và liên hệ”

- Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới “để kính thông báo và kế thừa sinh hoạt”

- Các Giáo hội, Tổ chức, Đoàn thể Phật giáo tại các nước Á châu và trên Thế giới “để kính thông báo và liên hữu hoạt động”

- Văn phòng Viện Hóa Đạo “để tri trường và chuyển trình đến các Tổng vụ, các Ban Đại diện và Giáo hội các cấp trong và ngoài nước chấp hành”

- Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “để chuyển trình Chính giới, Bộ Ngoại giao các nước, và phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí”

- Lưu chiếu tại Văn phòng Viện Tăng thống.

 

*******

 

Thông điệp của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ


THÔNG ĐIỆP
của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ
gửi Lễ Cầu nguyện cho Hòa bình thế giới, An ninh Đông Nam Á,
và Vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam

 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

 

Kính bạch chư tôn Trưởng lão,

Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni

Kính thưa quý vị Nhân sĩ quốc tế,

quý vị Thiện tri thức, Cư sĩ, đồng bào các giới trong và ngoài nước,

 

Xin hãy cùng nhau thành tâm nguyện cầu cho Hòa bình thế giới, An ninh Đông Nam Á, vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam để mở ra tiến trình dân chủ hóa Việt Nam sau những thập kỷ dài chiến tranh và tranh chấp ý thức hệ khiến nhân dân không được no ấm, hạnh phúc.

 

Thế giới ngày nay như ngôi nhà lửa vì nạn cuồng tín, bạo động và khủng bố có tính quốc tế. Làm sao dập tắt lửa ? Không thể nào trông cậy vào kẻ đốt nhà đi chữa lửa. Chỉ có Con Người Ý thức mới làm được việc này, những người đã dập tắt ngọn lửa tham, sân, si trong lòng mình mới đem lại an lạc cho kẻ khác và thế giới. Cách đây gần ba nghìn năm, Đức Phật đã trao tặng nhân loại nguyên lý sống khoan dung và trí tuệ, để con người có thể thoát ly mọi hoàn cảnh khổ đau, vô minh và bất bình đẳng xã hội, bước lên chân trời Giải thoát, Giác ngộ.

 

Đây chính là hành trình thể hiện nguyên lý ấy của người theo đạo Phật Việt Nam suốt trên Hai Nghìn Năm qua. Hành trình ấy ghi đậm vào lịch sử Việt Nam. Một lịch sử Phật giáo đồng hành cùng chúng sinh để cứu khổ và giác ngộ. Một lịch sử Phật giáo đồng hành cùng dân tộc để bảo vệ chủ quyền và hoàn mãn văn hiến. Đấy là thể thống nhất của Đạo Phật Việt trong tinh thần Bất Nhị và tính Tương duyên Tương sinh.

 

Người Phật tử Việt Nam đã biết thánh hóa cái chết bằng sự hóa thân vào Sự Sống để tôn trọng và bảo vệ Con Người, thăng hoa Con Người lên chân trời Trí Tuệ.

 

Dưới thời ngoại thuộc, Phật giáo đã hoàn tất công cuộc Chấn hưng khởi từ những năm 20 thế kỷ trước, bằng cuộc Xuống Đường không tiền khoáng hậu năm 1963, thế kỷ XX, để chấm dứt thời kỳ ngoại thuộc biến một tôn giáo dân tộc thành hội đoàn tư hữu, biến đạo lý truyền thống thành ý lực ngoại bang. Từ Tăng Ni đến Phật tử, không riêng ai, mà người người lớp lớp đã đem hết tâm lực, ý chí, máu xương với tinh thần bất bạo động và vô úy để bảo vệ tự do tín ngưỡng là quyền tối thượng của mọi người, đồng thời xóa bỏ nạn kỳ thị tôn giáo và bất bình đẳng xã hội.

 

Tiếc thay một chế độ ngoại thuộc khác lại đến vào năm 1975, làm cho sự phát huy Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị ngưng trệ cho đến hôm nay. Chế độ này cản ngăn Giáo hội và chư Tăng Ni, Phật tử tham dự tái thiết Việt Nam sau ngày chiến tranh chấm dứt trên các lĩnh vực tâm linh, văn hóa, giáo dục, y tế, từ thiện xã hội, nhân quyền. Cùng với chính sách độc tài toàn trị của Đảng Cộng sản, hậu quả của sự ngăn cản này làm cho toàn thể nhân dân Việt Nam phải sống trong đói nghèo, mất tự do và không sao phát triển. Việc thấy rõ qua bản Báo cáo năm nay của LHQ về sự Phát triển con người trong thế giới : sau 36 năm chấm dứt chiến tranh, Việt Nam vẫn còn đứng hàng thứ 128 trên 187 quốc gia !

 

Một việc khác không thể không nói là hiểm họa xâm lấn của Trung quốc trên đất và biển, đảo, đang làm xao động nhân tâm và lo lắng cho toàn thể nhân dân nước Việt mấy năm qua.

 

Hơn ai hết, người Phật tử Việt Nam đã có kinh nghiệm và đóng góp trong việc bảo vệ chủ quyền, mà tấm gương của Vua Trần Nhân Tông còn soi mãi nơi đáy lòng người Phật tử. Ngài cũng chính là Đại-Thánh Trần-Triều Trúc-Lâm Đầu- Đà Tịnh-Huệ Giác-Hoàng Điều-Ngự Tổ Phật của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, với sinh thức Sống Đạo giữa Đời (Cư trần lạc đạo). Yên xong việc nước Ngài vào núi Yên Tử đi tu. Việc xuất gia của Ngài đã được Hải Lượng Đại thiền sư ở thế kỷ XVIII đánh giá rằng :

 

“Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự, nhưng ở phía bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ chưa được an tâm. Cái ấy không tiện nói rõ, sợ người ta dao động. Cho nên nhắm được ngọn núi Yên Tử là núi cao nhất, phía đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng lên ngôi chùa, thường thường dạo chơi xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm, thật là một vị vô lượng Đại Thế Chí Bồ Tát”.

 

Tấm lòng người xưa lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ, là như thế. Ngày nay chúng ta phải làm gì để không hổ với tiền nhân, không đi ngược với nền Giáo lý Cứu khổ và Giác ngộ ? Đây là sự vấn tâm cho mỗi người con Phật và đồng bào Việt Nam.

 

Với quý vị nhân sĩ quốc tế hiện diện trong lễ Cầu nguyện hôm nay, chúng tôi mong mỏi quý vị góp lời cầu nguyện với chúng tôi để nhân loại được chung sống trong hòa bình, Đông Nam Á thoát ly các ảnh hưởng tranh giành làm mất an ninh, và Việt Nam mau chóng bước lên con đường dân chủ sánh cùng các nước văn minh trên thế giới. Lời cầu nguyện của quý vị là năng lượng từ bi giúp cho người dân Việt chúng tôi mau chóng thoát khỏi ách độc tài như nhân dân các nước Trung Đông vừa thực hiện.

 

NAM MÔ KIM CANG BẤT HOẠI PHẬT

 

Thanh Minh Thiền viện, ngày 19.11.2011

Đệ Ngũ Tăng Thống

GHPGVNTN

(ấn ký)

Sa môn Thích Quảng Độ


 


 

QUYẾT NGHỊ 12 ĐIỂM CỦA ĐẠI HỘI GHPGVNTN KỲ IX

QUYẾT NGHỊ 12 ĐIỂM
CỦA ĐẠI HỘI GHPGVNTN KỲ IX
tại Chùa Điều Ngự từ ngày 18 đến 20.11.2011

 

Thừa ủy nhiệm Hội đồng Lưỡng Viện trong nước, Văn phòng II Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) Hải ngoại tổ chức Ðại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ IX từ ngày 18 đến 20.11.2011 tại trụ sở Văn Phòng II Viện Hóa Đạo ở chùa Điều Ngự, thành phố Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ.

 

125 đơn vị giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ cùng với các đại biểu đến từ Canada, Úc châu, Âu châu thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền, Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử, Liên đoàn Cựu Huynh trưởng GĐPT, bao gồm 609 đại biểu đã vân tập về tham dự Đại hội GHPGVNTN kỳ IX, tiếp nối và khai triển Tiền hội nghị của Đại hội GHGVNTN kỳ IX tại chùa Giác Hoa, Saigon, ngày 12.11.2011.

 

Sau khi trang nghiêm lắng nghe Đạo từ của Đức Đệ ngũ Tăng thống, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Đạo từ của Đức Phó Tăng thống, Đại lão Hòa thượng Thích Hộ Giác, Diễn văn Chào mừng Đại hội IX của Hòa thượng Thích Viên Định, Tân Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và Diễn văn khai mạc Đại hội của Đại lão Hòa thượng Thích Chánh Lạc, Chủ tịch Văn phòng II Viện Hóa Đạo,

 

Trong không khí hào hứng, phấn khởi với ưu tư thâm thiết cho tiền đồ Phật giáo và chủ quyền đất nước đang bị ngoại bang uy hiếp, toàn thể Đại hội nghe thuyết trình, tham luận, góp ý và thảo bàn qua 5 khoáng đại với 5 chủ đề :

 

- Phật tử Việt Nam trước hiểm họa ngoại xâm

- Kiện toàn cơ sở Giáo hội

- Những nan đề của công cuộc hoằng pháp trong và ngoài nước

- Hướng đi của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và

- Thông qua các văn kiện và quyết nghị của Đại hội IX

 

Đại hội GHPGVNTN kỳ IX kết thúc trong bầu không khí trang nghiêm, xúc động và thân ái, với Lễ Suy tôn Đức Đệ Ngũ Tăng thống, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, và Lễ cầu nguyện thế giới hòa bình, an ninh Đông Nam Á, lãnh thổ lãnh hải vẹn toàn, quốc nạn và pháp nạn sớm giải trừ, với sự tham dự của hàng trăm chư Tăng Ni, hàng nghìn Phật tử. Đặc biệt có sự tham dự và hỗ trợ của qúy vị khách quốc tế đến từ Ai Cập, Vương quốc Na Uy, Quốc hội Châu Âu cùng các vị Dân biểu, nhân sĩ Hoa Kỳ.

 

Ðại hội đồng thanh quyết nghị :

 

1 – Nhận thức những thực tế ưu khuyết trong quá khứ, và bằng những giải pháp, phương tiện có thể, nỗ lực toàn tâm xiển dương chánh Pháp để vừa giải thoát khổ nạn cho muôn loài, vừa góp phần xây dựng một xã hội văn minh, công bình và lương hảo, vốn là nhân tố quan yếu giúp nhân loại được sống trong tự do, an bình và hạnh phúc ;

 

2 – Cố gắng hình thành càng sớm càng tốt bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam theo tinh thần sử học hiện đại để giúp cho những thế hệ tương lai hiểu đúng và hiểu rõ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam qua từng thời kỳ thịnh suy của Đạo Pháp và dân tộc ;

 

3 – Soạn thảo cho hàng ngũ Xuất gia và Tại gia dự án cải tổ toàn diện nền giáo dục hầu nâng cao trình độ tu học và thích ứng với kỷ nguyên mới của toàn cầu, nhưng không biến tướng đạo Phật ;

 

4 – Soạn thảo tài liệu giảng dạy cập nhật cho giới trẻ, thanh, sinh viên, quan tâm nhiều hơn về đức dục vì đời sống chỉ có thể thật sự hạnh phúc nếu đức dục là nền tảng cho mọi trí dục. Tổ chức các khóa tu học nghiêm túc, tạo thuận duyên cho mọi giới quần chúng Phật tử cũng như giới trẻ, trưởng dưỡng tín tâm, phát huy đạo học, thể nghiệm giáo pháp để viên mãn hạnh nguyện hoằng hóa độ sinh ;

 

5 – Phát triển và nâng cấp dự án Đại học Hè Phật giáo vừa thực hiện năm thứ nhất để huấn luyện nhân sự cho Giáo hội các cấp, các ngành, và đặc biệt cho giới trẻ, thanh, sinh viên am hiểu giáo lý Từ Bi Trí tuệ và áp dụng giáo lý ấy vào mọi bộ môn sinh hoạt của xã hội vào thế kỷ XXI ;

 

6 – Đoàn ngũ hóa giới cư sĩ Phật giáo để thù ứng với tình hình phát triển của giáo hội cũng như tình hình đất nước trước nguy cơ nội xâm và ngoại xâm ;

 

7 – Mở rộng những cuộc hội luận để thâm nhập và phổ biến các văn kiện của Giáo hội tạo sự thông cảm và kết hợp trong Cộng đồng người Việt hải ngoại theo tinh thần bản Hiến chương tu chính lần 4 tại Đại hội GHPGVNTN kỳ IX ;

 

8 – Quan tâm đúng mức những chùa, viện nghèo khó nơi những vùng sâu và vùng xa, vì đó là những địa bàn không thể thiếu trong sứ mệnh thượng cầu hạ hoá của những sứ giả Như Lai luôn mang tình thương trang trải khắp mọi miền ;

 

9 – Ứng dụng và phát huy đúng mức giáo pháp Lục Hoà Kính, nhằm củng cố Tăng đoàn, vốn là nền tảng cho mọi phát triển của Giáo Hội, nhưng tuyệt đối không để những thế lực vô minh tục hoá và tha hoá tôn chỉ “Hoá Đạo” của chúng ta ;

 

10 – Mọi việc làm của các thành viên không nên để liên quan và ảnh hưởng đến chủ trương và lập trường của Giáo Hội ;

 

11 – Mở rộng và thúc đẩy tích cực công tác vận động quốc tế kêu gọi sự hậu thuẫn của thế giới thực hiện Chương trình 8 điểm trong “Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam” do Hòa thượng Thích Quảng Ðộ nhân danh Hội đồng Lưỡng viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, công bố năm 2001, như tiến trình dân chủ hóa Việt Nam bằng tình nghĩa dân tộc và phương thức bất bạo động, nhằm chấm dứt tình trạng phân tranh, nghèo đói, suy kiệt của đất nước ;

 

12 – Mở rộng và thúc đẩy tích cực công tác vận động quốc tế của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế và Phòng Liên lạc Quốc tế nhằm hậu thuẫn công cuộc phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội theo lập trường bốn điểm của Viện Hóa Đạo :

 

- Thứ nhất, CHXHCNVN phải phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ;

 

- Thứ hai, hoàn trả Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tất cả các cơ sở chùa viện, văn hóa, giáo dục, từ thiện mà Nhà nước chiếm dụng sau năm 1975. Bước đầu, hoàn trả ngay cho Giáo hội hai cơ sở chính yếu là Việt Nam Quốc tự và Trung tâm Văn hóa Quảng Đức để Giáo hội có cơ ngơi đặt trụ sở cho Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo ;

 

- Thứ ba, đưa Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Đảng và Nhà nước thiết lập năm 1981 ra khỏi Mặt trận Tổ quốc ; và

 

- Thứ tư, làm sáng tỏ cái chết của Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh năm 1978.

 

Đại hội cũng đồng thanh quyết định tổ chức Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2556, năm 2012, tại trụ sở Trung ương của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo ở chùa Điều Ngự, thành phố Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ ; Đại hội Thường niên Giáo hội tại chùa Liên Hoa, thành phố Utah, tiểu bang Salt Lake City, Hoa Kỳ ; và Đại học Hè Phật giáo vào dịp lễ Độc Lập tại chùa Điều Ngự.

 

Làm tại Chùa Điều Ngự,
thành phố Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ, Phật lịch 2555,
ngày 20.11.2011

 

 

 

Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ IX tại Chùa Điều Ngự tứ ngày 18 đến 20-11-2011

 
LOS ANGELES, ngày 21.11.2011 (PTTPGQT) – tổ chức tại trụ sở Trung ương Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, chùa Điều Ngự, thành phố Wesminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ, từ ngày 18 đến 20.11.2011 đã kết thúc vào chiều chủ nhật 20.11 với Lễ Suy tôn Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, và Lễ Cầu nguyện cho Hòa bình thế giới, An ninh Đông Nam Á, Vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và Quốc nạn, Pháp nạn sớm tiêu trừ, dưới sự điều hành và tổ chức của Hòa thượng Trưởng ban Tổ chức Thích Viên Lý.

Mặc dù mưa to gió lớn, nhưng gần 4000 Phật tử và đồng bào các giới cùng với 150 chư Tăng Ni đến tham dự lễ bế mạc Đại hội thông qua hai cuộc lễ Suy tôn và Cầu nguyện nói trên.

 

Đặc biệt quý vị quan khách ngoại quốc đến từ Ai Cập, ông Sherif Mansour, Vương quốc Na Uy, ông Arne Linngard, Quốc hội Châu Âu, bà Marietje Shaake, Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, bà Loretta Sanchez, Dân biểu Tiểu bang California, Alan Mansoor, Thị trưởng Thành phố Westminster, Frank Fry, Nghị viên Thành phố Westminster Tạ Đức Trí, Nghị viên Thành phố Fountain Valley, Michael Võ, Đại diện Thượng nghị sĩ Tiểu bang California, Lou Correa, Đại diện Dân biểu Tim Suer, Đại diện Nghị viên Jose Solora, Chánh án Nguyễn Trọng Nho, Chánh án Jennifer Phạm, cũng đã đến tham dự và phát biểu sự hậu thuẫn Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ trong công trình vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam, dù ngài vẫn phải sống trong tình trạng quản chế tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon.

 

125 đơn vị giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ cùng với các đại biểu đến từ Canada, Úc châu, Âu châu thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền, Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử, Liên đoàn Cựu Huynh trưởng GĐPT, bao gồm 609 đại biểu đã vân tập về tham dự Đại hội GHPGVNTN kỳ IX, tiếp nối và khai triển Tiền hội nghị của Đại hội GHGVNTN kỳ IX tại chùa Giác Hoa, Saigon, ngày 12.11.2011.

 

Trong không khí hào hứng, phấn khởi với ưu tư thâm thiết cho tiền đồ Phật giáo và chủ quyền đất nước đang bị ngoại bang uy hiếp, toàn thể Đại hội nghe thuyết trình, tham luận, góp ý và thảo bàn qua 5 khoáng đại với 5 chủ đề :

 

- Phật tử Việt Nam trước hiểm họa ngoại xâm

- Kiện toàn cơ sở Giáo hội

- Những nan đề của công cuộc hoằng pháp trong và ngoài nước

- Hướng đi của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và

- Thông qua các văn kiện và quyết nghị của Đại hội IX

 

Xin xem tiếp ,  Quyết Nghị 12 điểm của Đại hội IX, Thông điệp của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ gửi lễ Cầu nguyện, Diễn văn chào mừng Đại hội của Hòa thượng Thích Viên Định,  và các Danh sách nhân sự mới của Hội đồng Giáo phẫm Trung ương, Viện Tăng Thống, Viện Hóa Đạo, Văn phòng II Viện Hóa Đạo, và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2011 – 2015 :

 

Phật Tử VN trước hiểm hoạ ngoại xâm .

 

Phật Tử VN trước hiểm hoạ ngoại xâm .

Kính bạch  Ngài Tăng Thống , kính thưa các Chư Tôn Đức Giáo Phẩm Tăng Ni , và các vị Đại diện .

Chúng con, đại diện Miền Đôn Hậu đến từ tiểu bang Florida , thật là hân hạnh được  trực tiếp góp ý kiến trong việc kiện toàn và phát huy GHPGVNTN ở vào thời điểm nguy biến của Giáo Hội trước thảm cảnh bị Cọng Sản đàn áp liên tục 36 năm qua và trước viễn cảnh dất nước bị Trung Cọng uy hiếp .

Trong mấy tháng qua, hiện tình xâm lấn của Trung Cọng trên Biển Đông , sự nội ứng của Đảng Cọng Sản VN thông qua công hàm ô nhục của Thủ Tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng  năm 1958 bán biển đảo cho Trung Cọng , việc nhượng đất nhượng biển cho Bắc Kinh khi ký kết 2 hiệp đinh biên giới năm 1999 và hiệp định lãnh  hải năm 2000 , cũng như việc khoáng trắng yết hầu quân sự Tây Nguyên cho Trung Cọng khai thác quặng Bauxite

Chính sách cua Trung Cong đối với Việt Nam,
Trung Cọng từ hơn 30 năm qua , đã và đang chuyển mình tiến về Đông Nam Á. Và Việt Nam là một trong những thí điểm lớn để cho tư bản TQ định cư cùng với những ảnh hưởng chính trị và quân sự để thực hiện mộng bá quyền và thôn tính vùng Đông Nam Á cùng biển Đông.
Trước sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, việc hạ giá thành phẩm là việc làm ưu tiên để có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới.  Do đó, Việt Nam là một mãnh đất béo bở cho tài phiệt TQ đầu tư vì:
- Nhân công còn quá rẻ, ngay cả đối với nhân công TQ vốn dĩ đã quá rẻ mạt;
- Chi phí cho việc bảo vệ môi trường không bị đòi hỏi gắt gao như ở TQ hiện tại;
- Và quan trọng nhất là mọi thủ tục hành chánh và dịch vụ xuất nhập cảng đều được dễ dàng vì cung cách quản lý địa phương ở Việt Nam dễ bị mua chuộc.

-Thêm một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho các nhà đầu tư TQ di chuyển xuống Việt Nam là TQ tìm thấy nơi đây một xứ sở giống như đất nước của họ, một đất nước đang chuyển mình từ từ và đang từ bỏ chủ thuyết cộng sản không tưởng để tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do đầy hấp dẫn.  TC và Cọng Sản VN có nhiều điểm tương đồng như là việc quan hệ kinh doanh có tính cách cá nhân và thường sử dụng quyền lực áp đặt để lấn át pháp luật hầu mang lại mọi dễ dãi trong thủ tục hành chánh,
Zou Qinghai, Chủ tịch phòng Thương mãi Triết Giang đã tuyên bố: ”Chúng tôi hiểu thông suốt rằng phải đưa tiền hối lộ mới xong công việc. Cách thức phát triển của Việt Nam chỉ đơn giản là một bản sao của Trung Quốc”.
Các công ty TC chú trọng đầu tư vào năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. TC đã ký thoả thuận trong việc thăm dò dầu khí ở vịnh Bắc Việt trong khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm thủ đô Hà Nội vào tháng 10, 2005. Việt Nam vẫn là một lợi điểm cho TQ vì hai quốc gia đã ký hiệp ước tự do mậu dịch với nhau. Từ đó, TQ đã chuyển ngành dệt sang VN để xuất cảng các sản phẩm nầy qua Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.
Làm ô nhiễm môi trường  tại Việt Nam ,
Gần 20 năm qua, TQ đã bắt đầu chuyển dịch các cơ sở sản xuất về VN cũng vì luật lệ ở TQ nghiêm ngặt hơn qua việc bảo vệ môi trường , đặc biệt ở các tỉnh ở miền duyên hải như Thượng Hải, Hong Kong, Triết Giang. TC đã  chuyển những công nghệ gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất như công nghệ thép, plastic, điện tử, hoá chất v.v… Cơ quan bảo vệ môi trường ở các tỉnh trên đã bắt đầu ngăn cấm và tước quyền sử dụng đất, nước, và điện của những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Đó cũng là một trong những lý do chính để các nhà đầu tư TQ xuôi Nam, một nơi có chi phí dùng trong an toàn lao động rẻ mạt.
Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của TQ. Tư thế của một đàn em Việt Nam trước một đàn anh nước lớn TQ cho đến nay vẫn là một sự thuần phục hoàn toàn. Thuần phục trong tư thế chính trị, quân sự lẫn kinh tế. TQ đã tạo được một sức ép quá mạnh trong ba lãnh vực trên, khiến cho Việt Nam luôn luôn đang ở thế bị động và không thể nào thoát khỏi tầm ảnh hưởng của ba gọng kềm của Trung Cong .
Chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Quốc như sau ,
Chúng ta thử hình dung các mắc xích có thể kết nối bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam . Đó là:

  1. Công trình xây dựng xa lộ Trường sơn.
  2. Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Đồng Hới,
  3. Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất,
  4. Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào, và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy.
  5. Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội .
  6. Miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận mũi Cà Mau,
  7. Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Cao Nguyên.

1-  Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn: Từ năm 2001, cựu Thủ tướng Việt Nam cộng sản Võ Văn Kiệt đã ra lịnh bằng mọi giá phải xây dựng xa lộ Trường Sơn nối liền Bắc Nam dọc theo biện giiới Việt Miên Lào, huy động hàng trăm ngàn thanh niên xung phong thời bấy giờ. Theo quan điểm chiến lược quân sự mới, xa lộ Trường Sơn sẽ không còn là con đường chiến lược một khi có chiến tranh như Võ v Kiệt đã biện minh.  Qua hai trận chiến ở Iraq và Afganistan, với vũ khí tối tân hiện tại, sẽ không còn việc di chuyển vũ khí và quân đội bằng đường bộ . Như vậy mục tiêu chính phải chăng là nhắm tới một mục tiêu bí mật nhằm giải quyết huyết lộ vận chuyển hàng hoá hai chiều VN và TQ.

2- Mở rộng đường số 9 : Đường số 9 được nới rộng thành một xa lộ để khai thông một huyết mạch mới đông tây từ Thái Lan ra biển Đông nối liền thị xã Đồng Hới và thành phố Chepone của Lào. Có được con đường nầy, hàng hoá hai chiều của TQ có thể được chuyển vận bằng đường sông và đường bộ để tiếp cận với các quốc gia khác qua biển Đông.

3- Về nhà máy lọc dầu Dung Quất , Vùng nầy giao thông hạn hẹp, điện nuớc, và dân cư thưa thớt, và  xa trung tâm sản xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa điểm nầy phải chăng được chọn lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của Trung Quốc, thay vì phải chuyển vận bằng xe từ Thượng Hải, Hong Kong bằng đường bộ rất tốn kém” . Chính vì lý do đươc mua chuộc hối lộ, bóc lột nhân công mà VN đã chấp nhận mọi tốn kém để xây dựng nhà máy Dung Quất dù cho tư bản Pháp và Liên bang Nga đã rút ra khỏi dự án.

4- Và công trình quốc tế thứ tư là trục vớt đá ngầm cùng nới sâu lòng sông Cửu Long không ngoài mục đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa có trọng tải trên 20 ngàn tấn nối liền Vân Nam (Tây Nam TQ), Thái, Lào, và VN, và giao thương với thế giới. Vân Nam là một tỉnh sản xuất hoá chất hàng đầu của Trung Quốc; do đó, nhu cầu vận chuyển nguyên liệu nhập cảng và xuất cảng thành phảm ra ngoại quốc là một nhu cầu chính yếu.
5- Thiết lập xa lộ nối liền Nam Ninh và Hà Nội: Song song với việc trên, một thiết lộ cũng đã được khai thác và nối liền hai thành phố. Việc xây dựng hoàn toàn do nhân viên và chuyển viên Trung Quốc đãm nhiệm, cũng như bề ngang của đường xe lữa dựa theo tiêu chuẩn Trung Quốc; do đó, xe lữa Việt Nam không thể sử dụng được. Hiện tại, chúng ta chỉ thấy các toa xe lữa hoàn toàn mang bản hiệu chữ Tàu mà thôi. Phải chăng, thiết lộ nầy ngoài nhu cầu phục vụ các dịch vụ giao thương kinh tế giữa hai nước hay còn một ẩn dụ nào khác” Đó là con đường tháo chạy an toàn cho lãnh đạo Việt Nam hiện tại, mỗi khi có biến động lờn ở Việt Nam”
6- Việc miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận Mũi Cà Mau: Mãi cho đấu tháng 11, 2008, người Trung Hoa được tự do đi lại, từ Bắc đến tận Cà Mau không cần xin hộ chiếu. Quyết định nầy là một lợi khí lớn cho TQ để chuyển vận hàng hoá và thực phẩm chính thức hay không chính thức xâm nhập vào tận miền Nam bằng đường bộ. Hiện nay, tại Sài Gòn, hoá chất bảo vệ thực vật không nhản hiệu được bày bán tự do, đủ loại thực phẩm, cây trái được bày bán ở thị trường miền Nam. Thử hỏi, thời gian thu hoạch trong nội địa TQ, chuyển vận bằng xe từ biên giới Bắc Việt (không có máy điều hoà không khí) xuôi Nam, làm sao các thực phẩm cây trái trên vẫn còn tươi rói, thậm chí cả cuống và lá vẫn xanh tươi như vừa mới hái. Thi trừơng rau cải Đà Lạt đã bị ối đọng vì không địch lại với hàng Trung Quốc có giá rẽ hơn.

Sau cùng, dự án khai thác quặng bauxite do chính Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ra lịnh tiến hành ngay, mặc dù có biết bao góp ý từ những nhà chuyên môn trong nước và hải ngoại, cùng kinh nghiệm của các quốc gia đã khai thác như Nga Sô, Nam Mỹ, Phi Châu, Trung Quôc và Úc Châu.
Tất cả đểu khuyến cáo là mức độ ô nhiễm môi trường rất cao. Chính TQ phải đóng cửa một nhà máy vừa khánh thành trị giá trên 1 tỷ Nhân dân tệ vì không giải quyết được áp lực của ngưòi dân và luật môi trường. Chính vì vậy mà Việt Nam “phải vâng lịnh” tiến hành ngay việc xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắk Nông dưới sự quản lý của nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp. Hiện tại đã có trên 100 nhân viên TQ hiện diện ở hai công trường nầy.
Dự án khai thác nầy đòi hỏi một lượng điện năng khổng lồ và nguồn nước thật dồi dào, chưa kể đến nguy cơ môi trường trước mắt là không khí bị ô nhiễm, môi trường nước cũng bị ô nhiễm do bùn “đỏ” trôi theo đường nước đi vào sông Đồng Nai, nguồn nước chính dự trù cho việc khai thác nầy. Nguy hiểm nhất là bùn đỏ sẽ chiếm lĩnh một diện tích vô cùng to lớn và hệ sinh thái chung quanh hoàn toàn bị huỷ diệt. Theo ước tính, muốn sản xuất 1,2 triệu tấn nhôm hàng năm, phải cần đền một lượng điện gấp đôi lượng điện Việt Nam đang có hiện nay. Vì vậy, để kết luận, dự án có thể nói là bất khả thi.
Như vậy, quyết định trên có phải là một quyết định đánh trống bõ dùi hay không” Hay là còn có một “ý đồ” nào khác hơn là việc ”khai thác nhôm” ! Sự hiện diện của nhân công, chuyên viên, kỹ sư TQ ở vùng Cao nguyên, , nguồn nguyên liệu dồi dào còn lại của Đất Nước VN, có thể là một nhân tố chính trị, quân sự và kinh tế  để Trung Quốc có thêm điều kiện khống chế Việt Nam”
Nếu tổng hợp bảy điểm trên lại với nhau, chúng ta có thể hình dung được một sự phối hợp chiến lược nhuần nhuyễn về quân sự, kinh tế và chính trị của TQ đôí vơí VN  là để chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ lục địa Tây Nam Trung Quốc sang Thái, Lào, Việt Nam và quốc tế , và biết bao lợi ích khác nữa cho TQ.

Những dự kiến trên đây không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm lý tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của TQ hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt.
Xuyên qua 7 điểm đã phân tích ở phần trên, việc phát triển ở VN đang trong tình trạng bế tắc, VN đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh tế chỉ huy, không thể hội nhập vào tiến trình tòan cầu hóa trên thế giới , để rồi cuối cùng giải pháp thần phục vẫn là giải pháp dễ nhất và an toàn nhất cho công cuộc bảo vệ quyền lực.
Từ những lý do đó, các lãnh đạo VN đã làm mất niềm tin của người dân.

Biết đến bao giờ thái độ thần phục của Việt Nam được chấm dứt để cho người dân Việt có khả năng đứng vững trên hai chân của mình. Lịch sử Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ không quên ghi lại những trang sử đen tối của dân tộc trong giai đoạn nầy.
Lời kết ,
Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của TQ và lý tính thuần phục của VN hiện tại.
Đất Nước là Đất Nước của chung, của cả dân tộc. Từ người lãnh đạo quản lý Đất Nước cho đến người dân cùng đinh trong xã hội cần phải được dự phần và chia xẻ trách nhiệm đối với Đất Nước.
Việt Nam từ bao năm nay, có biết bao chính sách, kế hoạch… bị phá sản mà nhân sự đề ra chính sách vẫn ung dung tự tại trên cương vị cũ, có khi càng cao hơn để có điều kiện đề ra những chính sách phá sản khác! Đó là một trong nhiều nghịch lý làm trì trệ sự tiến hóa và phát triển của Dân tộc.
Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, có thể nói qua những phân tích trên đây, mọi hành xử của cộng sản VN đều do cộng sản TQ điều khiển từ xa; VN hoàn toàn không còn khà năng quyết định vận mệnh của đất nước nếu không có sự “góp ý”  của TQ. Qua việc đàn áp người dân trong nước trong khi biểu tình chống TQ lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như qua việc VN để công an TQ đàn áp người dân trong khi biểu tình chống việc rước đuốc thế vận vừa qua đủ để nói lên tính nô lệ TQ của nhà cầm quyền cộng sản VN hiện tại.
Hiện tại, nội bộ đảng cộng sản VN đang có nhiều rạn nứt trầm trọng, và rạn nứt nầy có thể làm cho đảng cộng sản tan rã trong tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải chờ đợi trong thụ động mà tất cả người Việt trong nước hay tại hải ngoại cần phải thúc đẩy càng mạnh thêm để tiến trình dân chủ và nhân quyền ở VN diễn ra càng nhanh hơn nữa.
Sách Lịch sử Việt Nam của Cụ Trần Trọng Kim có ghi là Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trãi qua bốn lần bị Bắc thuộc. Ngày hôm nay, có thể được ghi thêm là Bắc thuộc lần thứ năm kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 và kết thúc vào ngày …

                   …   Ngày đó sẽ do tất cả người Việt trong và ngoài nước quyết định

Đai diện Miền Đôn Hậu

       Như Mẫn

 


Một Kinh Nghiệm Trên Hy Mã Lạp Sơn

 

Matthieu Ricard là người đã sống trên triền núi Hy-mã-lạp-sơn từ bốn mươi năm nay. Ông sẽ kể cho chúng ta nghe cuộc sống hàng ngày của một người tu hành, và cả những kinh nghiệm của ông về thiền định và khoa học. (Đây là bài báo do chính ông M. Ricard viết và đăng trên nguyệt san quốc tế nổi tiếng của Mỹ là tờ National Geographic, qua ấn bản tiếng Pháp, số 100 kỷ niêm đầu năm 2008. Các hình ảnh trong bài báo cũng do chính ông chụp. Trong số báo này còn có các bài khác nói vể dân tộc Tây tạng và kinh đô Lhassa. Hoang Phong lược dịch.)

Đối với tôi, Phật giáo đã trở thành những gì thật căn bản cho đời tôi. Cố gắng đạt được sự hiểu biết nội tâm, tìm hiểu bản chất của tâm thức, nắm vững được sự vận hành của hạnh phúc và khổ đau, là những gì khơi động trong tôi từng giây phút một trên đường tu tập hầu cải thiện cuộc sống của chính tôi. Con đường ấy mang những sắc thái triết học và những suy tư sâu xa, và thêm cả sự thành kính nữa, nó đã giúp tôi hướng về thể dạng « Giác ngộ », biểu hiện của một vị thầy tâm linh là Đức Phật.

Cuộc đời tôi bổng nhiên đổi hướng, sự đổi hướng ấy xảy ra vào ngày 2 tháng 6 năm 1967. Ngày hôm đó, tôi có dịp làm quen với một người mà sau này đã trở thành vị thầy tâm linh của tôi, đó là vị đại sư Kangyour Rinpoché. Lúc ấy tôi mới 20 tuổi và đang chuẩn bị bước vào viện Pasteur để soạn một luận án tiến sĩ (1) về khoa tế bào di truyền học trong phòng thí nghiệm của Giáo sư François Jacob, người đoạt giải Nobel về y khoa năm 1965 (cùng với hai vị giáo sư khác là André Lwoff và Jacques Monod). Nhưng thật ra trước đó, từ năm 1966 tôi đã quyết tâm lên đường sang Ấn độ, sau khi xem các bộ phim hết sức ngoạn mục của một người bạn là Arnaud Desjardin nói về các vị đại sư Tây tạng phải rời bỏ xứ sở của mình bị   Trung quốc xâm chiếm và họ đang sinh sống trên các triền núi phía Nam của Hy-mã-lạp-sơn. Vào thời bấy giờ, tìm đến những nơi này quả thật là một sự phiêu lưu. Tôi phải chọn các chuyến bay rẻ tiền và vì thế mà chuyến du hành phải mất nhiều tuần, hơn nữa tôi lại không nói được tiếng Anh sành sỏi. Sau những chuyến du lịch bằng tưởng tượng qua sách vở thì giờ đây tôi đang bắt đầu một chuyến du hành tâm linh thật sự.
Vị đại sư Kangyour Rinpoché quả thật là một vị thánh, một sinh linh hoàn hảo, một nhà hiền triết. Có thể nói đó là hình ảnh của thánh Françoise d’Assise hay của các nhà hiền triết thuộc thời kỳ Cổ đại đã từng ám ảnh đầu óc tôi trong những ngày thơ ấu.
Bạn bè nói cho tôi biết tên của ông ta, và khi vừa đến Darjeeling , tôi đã tìm ngay được ông. Gần như suốt ngày hôm ấy tôi ngồi trước mặt ông, cố gắng chập chửng « thiền định », nhưng thật sự ra là ngồi trầm tư bên cạnh ông thì đúng hơn. Sự hiện diện của ông đã đem đến cho tôi thật nhiều xúc cảm… Cái sâu xa, cái sức mạnh, cái trong sáng và nhất là cái tình thương toả rộng từ thân xác ông đã khai mở tâm trí cho tôi. Ông là một trong số những sinh linh đã hiểu được thế  nào bản thể đích thực của sự hiện hữu. Một vị thầy đích thực không phải chỉ biết giảng dạy mà còn phải biết đem cả sự hiện hữu của chính mình để làm gương sáng. Sau vài tuần bên cạnh ông, tôi quyết định tiếp tục khám phá thêm vùng đất mới này : từ Bắc Ấn, Ba-la-nại cho đến Cachemire…Vào thời bấy giờ, Darjeeling và Katmandou chỉ là những thị trấn nhỏ bé và êm đềm, không giống như ngày nay đã trở thành những đô thị đông đúc, kẹt xe và chật cứng người.
Tôi ngao du ba tháng trong khu vực đó của thế giới. Và chính ba tháng ấy đã thay đổi cả cuộc đời tôi sau này.
Khi trở về quê hương để bắt đầu năm khảo cứu đầu tiên ở Viện Pasteur thì tôi mới chợt nhận ra rằng cuộc gặp gở với thầy tôi đã tác động trong tôi một cách thật sâu xa. Những phẩm tính của ông cứ vương vấn mãi trong tâm hồn tôi. Tôi đã ý thức được chính đó là một một cái gì thật đích thực thu hút sự hiện hữu của tôi và sẽ mang lại cho cuộc sống của tôi một ý nghĩa, mặc dù trong lúc ấy tôi cũng chưa đủ sức để hình dung được cái ý nghĩa ấy như thế nào.
Năm sau vào dịp nghỉ hè, tôi vội vã trở lại Darjeeling . Và cứ tiếp tục như thế, mỗi năm tôi trở lại đây, rồi đến năm thứ sáu tôi nhất quyết chọn lấy cho mình một quyết định, một quyết định mà không bao giờ tôi hối tiếc : tôi muốn được sống trong một nơi mà tôi hằng mong ước, và thế đó tôi đã lưu lại Darjeeling từ năm 1972. Dĩ nhiên là việc ấy đã làm cho vị thầy của tôi là Giáo sư François Jacob vô cùng sửng sốt. Về phần cha tôi là triết gia Jean-François Rével thì ông rụng rời cả tay chân. Riêng mẹ tôi là họa sĩ Yhane Le Tourmelin, cũng như người cậu của tôi là Jaques-Yves Le Toumelin, một nhà đi biển phiêu lưu và đơn độc, lại tán thành lý tưởng của tôi. Sau này mẹ tôi cũng sang Ấn độ và cùng tôi tu học với các vị thầy của tôi.

Sau khi vị đại sư Kangyour Rinpoché qua đời vào năm 1975, tôi tiếp tục tu tập trong một chiếc am nhỏ trên núi, cũng không xa tu viện của tôi bao nhiêu. Chính trong khoảng thời gian này, tôi đã gặp được vị thầy thứ hai là Dilgo Khyentsé Rinpoché, và tôi đã theo bên cạnh vị sư này mười hai năm không rời bước, từ Bhoutan đến Ấn độ, từ Népal đến Tây tạng. Tôi lắng nghe ông giảng dạy, hầu hạ ông và cùng ông du hành. Sau đó, từ năm 1979 thì tôi đã trở thành một nhà sư thật thụ. Khi vị thầy thứ hai của tôi rời bỏ thế giới này vào năm 1991 thì tôi lui về một am nhỏ ở Népal, trong một vùng núi cách Katmandou vài giờ đường bộ, đây là một nơi ẩn cư do tu viện Schéchén quản lý, và tu viện này cũng chính là nơi cư ngụ thường xuyên của tôi. Những khoảng thời gian trên đây đã mang lại cho tôi những gì phong phú nhất trong suốt cuộc sống của tôi. Từ đó mỗi năm tôi sống ít nhất là tám tháng ở Á châu (Népal, Tây tạng, Bhoutan, Ấn độ) và phần thời gian còn lại tôi thường lưu trú tại Âu châu và Hoa kỳ.
« Quyển sách Một nhà sư và một triết gia, ghi lại cuộc đối thoại với cha tôi, đã gặt hái được kết quả tốt, và tôi đã dùng toàn bộ tiền bản quyền vào việc từ thiện» 
 Trong khoảng thời gian gần hai mươi năm, từ các miền Darjeeling đến Bhoutan, tôi chỉ cần vỏn vẹn khoảng 30 euros mỗi tháng là đủ sống. Nhưng khi quyển sách « Một nhà sư và một triết gia » được xuất bản, ghi lại cuộc đối thoại giữa cha tôi là Jean-François Rével (2) và tôi, thì bổng nhiên tôi nhận được một khoản tài chính quan trọng nhờ vào sự thành công của quyển sách mà số bán đã lên đến 350 000 quyển chỉ riêng trên đất Pháp. Tôi không hề có một thoáng ý định nào dùng số tiền ấy để mua một căn nhà hay mua một chiếc xe, trái lại tôi quyết định cống hiến tất cả tiền nhuận bút của quyển sách trên đây và cả những quyển sách khác xuất bản sau này cho các chương trình từ thiện. Đây là dịp đem ra thực hành những lời giảng huấn về lòng từ bi mà tôi từng được học từ nhiều năm nay. Nhờ đó mà các dự án Karuna-Schéchèn có thể bước sang giai đoạn thực hiện. Karuna trong tiếng Phạn có nghĩa là Từ bi và Scéchèn là tên của tu viện mà tôi đang tu học. Ngoài số bạn bè tình nguyện tham gia vào các chương trình này, còn có một số người hảo tâm khác nữa đã ủng hộ chúng tôi. Đến nay chúng tôi đã thiết lập được ba mươi dự án do chính chúng tôi đứng ra điều hành – gồm sáu bệnh viện, mười trường học, các trung tâm chăm sóc người già và trẻ mồ côi, xây cầu đường v.v. ở  các miền Tây tạng, Népal, Ấn độ và Bhoutan. Chúng tôi đã chăm sóc cho 1 500 trẻ em và chữa trị cho 90 000 ngàn bệnh nhân, hơn một nữa số bệnh nhân này được hoàn toàn miễn phí. Ngoài niềm vui sướng khi được dịp phục vụ cho người khác, tôi còn rất hãnh diện khi thấy lòng từ bi đã mang lại nhiều hiệu quả, vì chi phí điều hành chỉ mất có 2% trên tổng số ngân khoản chung. Tu viện Schéchèn nơi lưu ngụ chính thức của tôi cũng là một nơi để gặp gỡ và học hỏi. Ngoài tu viện với 300 tỳ kheo, chúng tôi còn quản lý một trường trung học giảng dạy triết học với học kỳ kéo dài chín năm, một trường hội họa chuyên về tranh ảnh tôn giáo với số học viên hiện nay là sáu mươi người, cả nam lẫn nữ, cả sư sãi và người thế tục, họ đang theo một khoá đào tạo kéo dài sáu năm. Thêm vào đó lại có cả một trung tâm ấn hành kinh sách Tây tạng và trung tâm này đã in được 400 bộ kinh trong thời gian ba mươi năm vừa qua, các kinh sách ấy được trích ra từ kho tài liệu đồ sộ của tu viện. Một trong số những tài liệu quan trọng, nhất là bộ sưu tập về nghệ thuật Tây tạng bằng phóng ảnh. Vì thế sinh hoạt của tu viện lúc nào bận rộn, mỗi lần về đây tôi làm việc suốt bảy ngày một tuần từ sáng cho đến tối.
Tuy nhiên cũng phải tu tập, và thật may mắn tôi được cấp một cái am nhỏ nhìn lên Hy-mã-lạp-sơn để làm nơi tĩnh tâm, am chỉ cách Katmandou vài giờ đường bộ. Thật vậy niềm phúc hạnh chân thật, vẹn toàn và vững bền mà tiếng Phạn gọi là sukha chỉ có thê đạt được khi nào loại bỏ được sự u mê tâm thần và những xúc cảm đối nghịch. Niềm phúc hạnh đó là một thứ trí tuệ giúp nhận biết được thế giới này đúng với bản chất của nó, không bị che lấp cũng không bị méo mó. Và niềm phúc hạnh đó cũng tượng trưng cho sự hân hoan được bước vào con đường giải thoát nội tâm và lòng nhân từ tràn đầy yêu thương toả rộng đến mọi người chung quanh.
« Người ta thường gán cho tôi cái biệt danh là ‘’người  sung sướng nhất trên đời’’. Nhưng thật ra bất cứ ai cũng đều có thể trở nên sung sướng nhất trên đời khi họ biết tìm cái hạnh phúc ấy vào đúng chỗ của nó »
Trước đây tôi có tham gia vào các buổi họp của nhóm Tâm linh và Sự sống tại Dharamsala, nơi lưu ngụ của Đức Đạt-lai Lạt-ma trên đất Ấn. Và từ đó sự hợp tác càng trở nên chặt chẻ hơn. Chúng tôi đưa ra một chương trình quy định việc nghiên cứu thiền định. Chúng tôi hợp tác với một số các chuyên gia lỗi lạc nhất trên thế giới về thần kinh học, trong đó có những chuyên gia thuộc các đại học như Madison ở Wisconsin , Princeton , Harvard, và gần đây hơn là đại học Maastrich tại Hòa lan. Chúng tôi nghiên cứu về lòng vị tha và từ bi, vì đó là những xúc cảm mang tính cách tích cực hơn hết trong số các xúc cảm, những xúc cảm này làm phát sinh những làn sóng gamma cực mạnh trong não bộ.
Đối tượng của các công cuộc nghiên cứu trên đây gồm có các ảnh hưởng ngắn và dài hạn do thiền định mang lại trong việc biến cải tâm linh, các công cuộc nghiên cứu này có mục đích tìm kiếm một giải pháp thực tiển để giải quyết các khó khăn muôn thuở và điên đầu do những xúc cảm mang tính cách tệ hại gây ra. Nhu cầu khảo cứu đòi hỏi tôi phải chịu đựng năm mươi giờ IRM (3). Kết quả do việc nghiên cứu này đã làm cho một số cơ quan truyền tin và báo chí đem gán cho tôi cái biệt danh là « người sung sướng nhất trên đời ». Điều ấy chẳng có nghĩa gì cả. Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể là « người sung sướng nhất trên đời » nếu họ biết đi tìm cái hạnh phúc ấy đúng vào chỗ của nó. 
Bures-Sur-Yvette 
Người dịch : Hoang Phong 
 
Ghi chú của người dịch :
1- Hai mươi tuổi đã soạn luận án tiến sĩ có nghĩa ông là một sinh viên khác thường. Muốn soạn luận án tiến sĩ ít nhất trước đó phải thi đậu các bằng cử nhân và cao học. Người ta cho biết là ông đậu tú tài lúc mới mười ba tuổi. Ngoài ra, cũng không phải là dễ để được một giáo sư đoạt giải Nobel nhận làm học trò.
2- Jean-François Rével (1924-1992) : không phải là tên thật mà chỉ là bút hiệu, vì chính ông không muốn giữ cùng một họ với con mình vì cả hai đều rất nổi tiếng. Ông là triết gia, học giả, nhà văn, nhà báo, bình luận gia…và  cũng là thành viên của Hàn lâm Viện Pháp. 
3- Máy ghi nhận hình ảnh bằng cộng hưởng từ, tiếng Anh viết là MRI. Trong trường hợp trên đây, các khoa học gia về thần kinh học quan sát bộ nảo của ông M. Ricard bằng IRM trong khi ông thiền định và nhận thấy ông đang chìm trong một trạng thái sâu xa và êm ả nhất của sinh hoạt não bộ.
 

Phần đóng khung trong bài báo :
Thầy và đệ tử
Hai vị thầy, đồng thời cũng là hai sinh linh khác thường, đã đưa tôi vào con đường Phật pháp : vị thầy thứ nhất của tôi là Kangyour Rinpoché, sau khi vỉ này qua đời vào năm 1975 thì tôi gặp được vị thầy thứ hai Dilgo Khyentsé Rinpoché.  
Vào những năm đầu của thập niên 1980, nhờ vào vị thầy thứ hai mà tôi đã gặp được Đức Đạt-lai Lạt-ma. Chính Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng xem Khyentsé Rinpoché là một trong những vị thầy chính thức của Ngài và mỗi năm Ngài đều mời ông về ở chung với Ngài từ một đến hai tuần để có dịp học hỏi thêm. Cũng giống như vị thầy trước đây của tôi, Khyentsé Rinpoché có một chiều rộng tâm linh và một tấm lòng nhân ái khác thường, những phẩm tính đó đã giúp ông cảm nhận được được bản chất đích thực của mọi sự hiện hữu. Tuy ông ban ra những lời giáo huấn, nhưng thật ra và đúng hơn thì ông là hiện thân của chính những lời giáo huấn ấy.  

 

  Khi tôi gặp Đức Đạt-lai Lạt-ma tại Paris vào năm 1989, Ngài có nhờ tôi thông dịch tiếng Tây tạng sang tiếng Pháp, và kể từđó tôi đã trở thành người thông dịch cho Ngài, mỗi năm độ một hai lần. Dù trước công chúng hay trong cuộc sống riêng tư, Đức Đạt-lai Lạt-ma luôn luôn là một tấm gương, đúng với những gì Ngài giảng dạy : đơn sơ, từ bi và trí tuệ. Nhờ Ngài, tôi được tiếp xúc với rất nhiều khoa học gia, nhất là trong lãnh vực thần kinh học, họ chuyên khảo cứu về những ảnh hưởng của thiền định đối với não bộ. (Hình trên: Matthieu Ricard (trái) và Đạt Lai Lạt Ma, April 17, 1997, trước khi cuộc họp báo của ông tại Đài tưởng niệm Hòa bình ở Caen . Ảnh AFP) 

 
Hình 1: Nhà sư Matthieu Ricard ngồi thiền trước băng hà của  
ngọn núi Chomo Lhari (7326m), một trong những ngọn nuí cao nhất của xứ Bhoutan


Hình 2a và 2b: Tu viện Schéchèn, trong vùng lãnh thổ Kham, thuộc miền Đông Tây Tạng

dzong
Hình 3: Một Dzong trong thung lũng Paro, thuộc xứ Bhoutan, dzong là một
nơi vừa làm tu viện vừa làm cơ quan hành chánh địa phương.

 
Hình 4: Kangyour Rinpoché vị thầy thứ nhất của ông Matthieu Ricard


Hình 5: Ông Matthieu Ricard vào năm 1981, tại thang Rémochèn, một thánh đại của xứ Bhoutan

 


Hình 6: Đức Đạt-lai Lạt-ma và Ông M. Ricard trong dịp gặp gỡ
Quốc hội Âu Châu tại Strasbourg, vào tháng 10/2001


Hình 7: Vùng Boumthang, xứ Bhoutan, ở độ cao 3,000 mét
Buồi lễ cống hiến cho vô thường của sự sống vừa chấm dứt.


Hình 8a và 8b: Những thửa ruộng trêng triền núi thuộc tỉnh Amdo, Tây Bắc Tây Tạng


Hình 9a và 9b: Người dân thuộc miền Đông Tây Tạng, từ trái sang phải và từ trên xuống dưới:
 1/ Một đứa bé trai, 2/ Một người thợ mộc làm nhà,  3/ Một người đàn ông Dzongsar
 4/ Một vị lương y, 5/ Một phụ nữ vùng Golok, 6/ Một người sống ẩn dật, 7/ Một đứa bé vùng Dzongsar.


Hình 10: Một rừng cờ dùng vào việc tụng niệm
các lá cờ buộc vào các thân tre.