Chùa Phật Pháp

Southwest Florida Buddhist, Inc.

Archives

You are browsing the site archives.

Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ IX tại Chùa Điều Ngự tứ ngày 18 đến 20-11-2011

 
LOS ANGELES, ngày 21.11.2011 (PTTPGQT) – tổ chức tại trụ sở Trung ương Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, chùa Điều Ngự, thành phố Wesminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ, từ ngày 18 đến 20.11.2011 đã kết thúc vào chiều chủ nhật 20.11 với Lễ Suy tôn Đức Đệ Ngũ Tăng Thống, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, và Lễ Cầu nguyện cho Hòa bình thế giới, An ninh Đông Nam Á, Vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam và Quốc nạn, Pháp nạn sớm tiêu trừ, dưới sự điều hành và tổ chức của Hòa thượng Trưởng ban Tổ chức Thích Viên Lý.

Mặc dù mưa to gió lớn, nhưng gần 4000 Phật tử và đồng bào các giới cùng với 150 chư Tăng Ni đến tham dự lễ bế mạc Đại hội thông qua hai cuộc lễ Suy tôn và Cầu nguyện nói trên.

 

Đặc biệt quý vị quan khách ngoại quốc đến từ Ai Cập, ông Sherif Mansour, Vương quốc Na Uy, ông Arne Linngard, Quốc hội Châu Âu, bà Marietje Shaake, Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, bà Loretta Sanchez, Dân biểu Tiểu bang California, Alan Mansoor, Thị trưởng Thành phố Westminster, Frank Fry, Nghị viên Thành phố Westminster Tạ Đức Trí, Nghị viên Thành phố Fountain Valley, Michael Võ, Đại diện Thượng nghị sĩ Tiểu bang California, Lou Correa, Đại diện Dân biểu Tim Suer, Đại diện Nghị viên Jose Solora, Chánh án Nguyễn Trọng Nho, Chánh án Jennifer Phạm, cũng đã đến tham dự và phát biểu sự hậu thuẫn Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ trong công trình vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam, dù ngài vẫn phải sống trong tình trạng quản chế tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon.

 

125 đơn vị giáo hội trên toàn quốc Hoa Kỳ cùng với các đại biểu đến từ Canada, Úc châu, Âu châu thuộc các Hội đồng, các Tổng vụ và các Miền, Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử, Liên đoàn Cựu Huynh trưởng GĐPT, bao gồm 609 đại biểu đã vân tập về tham dự Đại hội GHPGVNTN kỳ IX, tiếp nối và khai triển Tiền hội nghị của Đại hội GHGVNTN kỳ IX tại chùa Giác Hoa, Saigon, ngày 12.11.2011.

 

Trong không khí hào hứng, phấn khởi với ưu tư thâm thiết cho tiền đồ Phật giáo và chủ quyền đất nước đang bị ngoại bang uy hiếp, toàn thể Đại hội nghe thuyết trình, tham luận, góp ý và thảo bàn qua 5 khoáng đại với 5 chủ đề :

 

- Phật tử Việt Nam trước hiểm họa ngoại xâm

- Kiện toàn cơ sở Giáo hội

- Những nan đề của công cuộc hoằng pháp trong và ngoài nước

- Hướng đi của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và

- Thông qua các văn kiện và quyết nghị của Đại hội IX

 

Xin xem tiếp ,  Quyết Nghị 12 điểm của Đại hội IX, Thông điệp của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ gửi lễ Cầu nguyện, Diễn văn chào mừng Đại hội của Hòa thượng Thích Viên Định,  và các Danh sách nhân sự mới của Hội đồng Giáo phẫm Trung ương, Viện Tăng Thống, Viện Hóa Đạo, Văn phòng II Viện Hóa Đạo, và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2011 – 2015 :

 

Phật Tử VN trước hiểm hoạ ngoại xâm .

 

Phật Tử VN trước hiểm hoạ ngoại xâm .

Kính bạch  Ngài Tăng Thống , kính thưa các Chư Tôn Đức Giáo Phẩm Tăng Ni , và các vị Đại diện .

Chúng con, đại diện Miền Đôn Hậu đến từ tiểu bang Florida , thật là hân hạnh được  trực tiếp góp ý kiến trong việc kiện toàn và phát huy GHPGVNTN ở vào thời điểm nguy biến của Giáo Hội trước thảm cảnh bị Cọng Sản đàn áp liên tục 36 năm qua và trước viễn cảnh dất nước bị Trung Cọng uy hiếp .

Trong mấy tháng qua, hiện tình xâm lấn của Trung Cọng trên Biển Đông , sự nội ứng của Đảng Cọng Sản VN thông qua công hàm ô nhục của Thủ Tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng  năm 1958 bán biển đảo cho Trung Cọng , việc nhượng đất nhượng biển cho Bắc Kinh khi ký kết 2 hiệp đinh biên giới năm 1999 và hiệp định lãnh  hải năm 2000 , cũng như việc khoáng trắng yết hầu quân sự Tây Nguyên cho Trung Cọng khai thác quặng Bauxite

Chính sách cua Trung Cong đối với Việt Nam,
Trung Cọng từ hơn 30 năm qua , đã và đang chuyển mình tiến về Đông Nam Á. Và Việt Nam là một trong những thí điểm lớn để cho tư bản TQ định cư cùng với những ảnh hưởng chính trị và quân sự để thực hiện mộng bá quyền và thôn tính vùng Đông Nam Á cùng biển Đông.
Trước sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, việc hạ giá thành phẩm là việc làm ưu tiên để có thể chiếm lĩnh thị trường thế giới.  Do đó, Việt Nam là một mãnh đất béo bở cho tài phiệt TQ đầu tư vì:
- Nhân công còn quá rẻ, ngay cả đối với nhân công TQ vốn dĩ đã quá rẻ mạt;
- Chi phí cho việc bảo vệ môi trường không bị đòi hỏi gắt gao như ở TQ hiện tại;
- Và quan trọng nhất là mọi thủ tục hành chánh và dịch vụ xuất nhập cảng đều được dễ dàng vì cung cách quản lý địa phương ở Việt Nam dễ bị mua chuộc.

-Thêm một yếu tố tâm lý quan trọng khiến cho các nhà đầu tư TQ di chuyển xuống Việt Nam là TQ tìm thấy nơi đây một xứ sở giống như đất nước của họ, một đất nước đang chuyển mình từ từ và đang từ bỏ chủ thuyết cộng sản không tưởng để tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do đầy hấp dẫn.  TC và Cọng Sản VN có nhiều điểm tương đồng như là việc quan hệ kinh doanh có tính cách cá nhân và thường sử dụng quyền lực áp đặt để lấn át pháp luật hầu mang lại mọi dễ dãi trong thủ tục hành chánh,
Zou Qinghai, Chủ tịch phòng Thương mãi Triết Giang đã tuyên bố: ”Chúng tôi hiểu thông suốt rằng phải đưa tiền hối lộ mới xong công việc. Cách thức phát triển của Việt Nam chỉ đơn giản là một bản sao của Trung Quốc”.
Các công ty TC chú trọng đầu tư vào năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. TC đã ký thoả thuận trong việc thăm dò dầu khí ở vịnh Bắc Việt trong khi Hồ Cẩm Đào viếng thăm thủ đô Hà Nội vào tháng 10, 2005. Việt Nam vẫn là một lợi điểm cho TQ vì hai quốc gia đã ký hiệp ước tự do mậu dịch với nhau. Từ đó, TQ đã chuyển ngành dệt sang VN để xuất cảng các sản phẩm nầy qua Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu.
Làm ô nhiễm môi trường  tại Việt Nam ,
Gần 20 năm qua, TQ đã bắt đầu chuyển dịch các cơ sở sản xuất về VN cũng vì luật lệ ở TQ nghiêm ngặt hơn qua việc bảo vệ môi trường , đặc biệt ở các tỉnh ở miền duyên hải như Thượng Hải, Hong Kong, Triết Giang. TC đã  chuyển những công nghệ gây ô nhiễm môi trường nhiều nhất như công nghệ thép, plastic, điện tử, hoá chất v.v… Cơ quan bảo vệ môi trường ở các tỉnh trên đã bắt đầu ngăn cấm và tước quyền sử dụng đất, nước, và điện của những cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Đó cũng là một trong những lý do chính để các nhà đầu tư TQ xuôi Nam, một nơi có chi phí dùng trong an toàn lao động rẻ mạt.
Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật Việt Nam đang phải hứng chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của TQ. Tư thế của một đàn em Việt Nam trước một đàn anh nước lớn TQ cho đến nay vẫn là một sự thuần phục hoàn toàn. Thuần phục trong tư thế chính trị, quân sự lẫn kinh tế. TQ đã tạo được một sức ép quá mạnh trong ba lãnh vực trên, khiến cho Việt Nam luôn luôn đang ở thế bị động và không thể nào thoát khỏi tầm ảnh hưởng của ba gọng kềm của Trung Cong .
Chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Quốc như sau ,
Chúng ta thử hình dung các mắc xích có thể kết nối bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam . Đó là:

  1. Công trình xây dựng xa lộ Trường sơn.
  2. Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Đồng Hới,
  3. Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất,
  4. Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào, và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tài nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy.
  5. Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội .
  6. Miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận mũi Cà Mau,
  7. Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Cao Nguyên.

1-  Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn: Từ năm 2001, cựu Thủ tướng Việt Nam cộng sản Võ Văn Kiệt đã ra lịnh bằng mọi giá phải xây dựng xa lộ Trường Sơn nối liền Bắc Nam dọc theo biện giiới Việt Miên Lào, huy động hàng trăm ngàn thanh niên xung phong thời bấy giờ. Theo quan điểm chiến lược quân sự mới, xa lộ Trường Sơn sẽ không còn là con đường chiến lược một khi có chiến tranh như Võ v Kiệt đã biện minh.  Qua hai trận chiến ở Iraq và Afganistan, với vũ khí tối tân hiện tại, sẽ không còn việc di chuyển vũ khí và quân đội bằng đường bộ . Như vậy mục tiêu chính phải chăng là nhắm tới một mục tiêu bí mật nhằm giải quyết huyết lộ vận chuyển hàng hoá hai chiều VN và TQ.

2- Mở rộng đường số 9 : Đường số 9 được nới rộng thành một xa lộ để khai thông một huyết mạch mới đông tây từ Thái Lan ra biển Đông nối liền thị xã Đồng Hới và thành phố Chepone của Lào. Có được con đường nầy, hàng hoá hai chiều của TQ có thể được chuyển vận bằng đường sông và đường bộ để tiếp cận với các quốc gia khác qua biển Đông.

3- Về nhà máy lọc dầu Dung Quất , Vùng nầy giao thông hạn hẹp, điện nuớc, và dân cư thưa thớt, và  xa trung tâm sản xuất dầu thô hàng ngàn dậm. Địa điểm nầy phải chăng được chọn lựa để đáp ứng mục tiêu chuyển vận dầu khí vào vùng đất phía Tây Nam của Trung Quốc, thay vì phải chuyển vận bằng xe từ Thượng Hải, Hong Kong bằng đường bộ rất tốn kém” . Chính vì lý do đươc mua chuộc hối lộ, bóc lột nhân công mà VN đã chấp nhận mọi tốn kém để xây dựng nhà máy Dung Quất dù cho tư bản Pháp và Liên bang Nga đã rút ra khỏi dự án.

4- Và công trình quốc tế thứ tư là trục vớt đá ngầm cùng nới sâu lòng sông Cửu Long không ngoài mục đích vận chuyển của các tàu vận tải hàng hóa có trọng tải trên 20 ngàn tấn nối liền Vân Nam (Tây Nam TQ), Thái, Lào, và VN, và giao thương với thế giới. Vân Nam là một tỉnh sản xuất hoá chất hàng đầu của Trung Quốc; do đó, nhu cầu vận chuyển nguyên liệu nhập cảng và xuất cảng thành phảm ra ngoại quốc là một nhu cầu chính yếu.
5- Thiết lập xa lộ nối liền Nam Ninh và Hà Nội: Song song với việc trên, một thiết lộ cũng đã được khai thác và nối liền hai thành phố. Việc xây dựng hoàn toàn do nhân viên và chuyển viên Trung Quốc đãm nhiệm, cũng như bề ngang của đường xe lữa dựa theo tiêu chuẩn Trung Quốc; do đó, xe lữa Việt Nam không thể sử dụng được. Hiện tại, chúng ta chỉ thấy các toa xe lữa hoàn toàn mang bản hiệu chữ Tàu mà thôi. Phải chăng, thiết lộ nầy ngoài nhu cầu phục vụ các dịch vụ giao thương kinh tế giữa hai nước hay còn một ẩn dụ nào khác” Đó là con đường tháo chạy an toàn cho lãnh đạo Việt Nam hiện tại, mỗi khi có biến động lờn ở Việt Nam”
6- Việc miễn hộ chiếu cho người Trung hoa vào tận Mũi Cà Mau: Mãi cho đấu tháng 11, 2008, người Trung Hoa được tự do đi lại, từ Bắc đến tận Cà Mau không cần xin hộ chiếu. Quyết định nầy là một lợi khí lớn cho TQ để chuyển vận hàng hoá và thực phẩm chính thức hay không chính thức xâm nhập vào tận miền Nam bằng đường bộ. Hiện nay, tại Sài Gòn, hoá chất bảo vệ thực vật không nhản hiệu được bày bán tự do, đủ loại thực phẩm, cây trái được bày bán ở thị trường miền Nam. Thử hỏi, thời gian thu hoạch trong nội địa TQ, chuyển vận bằng xe từ biên giới Bắc Việt (không có máy điều hoà không khí) xuôi Nam, làm sao các thực phẩm cây trái trên vẫn còn tươi rói, thậm chí cả cuống và lá vẫn xanh tươi như vừa mới hái. Thi trừơng rau cải Đà Lạt đã bị ối đọng vì không địch lại với hàng Trung Quốc có giá rẽ hơn.

Sau cùng, dự án khai thác quặng bauxite do chính Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ra lịnh tiến hành ngay, mặc dù có biết bao góp ý từ những nhà chuyên môn trong nước và hải ngoại, cùng kinh nghiệm của các quốc gia đã khai thác như Nga Sô, Nam Mỹ, Phi Châu, Trung Quôc và Úc Châu.
Tất cả đểu khuyến cáo là mức độ ô nhiễm môi trường rất cao. Chính TQ phải đóng cửa một nhà máy vừa khánh thành trị giá trên 1 tỷ Nhân dân tệ vì không giải quyết được áp lực của ngưòi dân và luật môi trường. Chính vì vậy mà Việt Nam “phải vâng lịnh” tiến hành ngay việc xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắk Nông dưới sự quản lý của nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp. Hiện tại đã có trên 100 nhân viên TQ hiện diện ở hai công trường nầy.
Dự án khai thác nầy đòi hỏi một lượng điện năng khổng lồ và nguồn nước thật dồi dào, chưa kể đến nguy cơ môi trường trước mắt là không khí bị ô nhiễm, môi trường nước cũng bị ô nhiễm do bùn “đỏ” trôi theo đường nước đi vào sông Đồng Nai, nguồn nước chính dự trù cho việc khai thác nầy. Nguy hiểm nhất là bùn đỏ sẽ chiếm lĩnh một diện tích vô cùng to lớn và hệ sinh thái chung quanh hoàn toàn bị huỷ diệt. Theo ước tính, muốn sản xuất 1,2 triệu tấn nhôm hàng năm, phải cần đền một lượng điện gấp đôi lượng điện Việt Nam đang có hiện nay. Vì vậy, để kết luận, dự án có thể nói là bất khả thi.
Như vậy, quyết định trên có phải là một quyết định đánh trống bõ dùi hay không” Hay là còn có một “ý đồ” nào khác hơn là việc ”khai thác nhôm” ! Sự hiện diện của nhân công, chuyên viên, kỹ sư TQ ở vùng Cao nguyên, , nguồn nguyên liệu dồi dào còn lại của Đất Nước VN, có thể là một nhân tố chính trị, quân sự và kinh tế  để Trung Quốc có thêm điều kiện khống chế Việt Nam”
Nếu tổng hợp bảy điểm trên lại với nhau, chúng ta có thể hình dung được một sự phối hợp chiến lược nhuần nhuyễn về quân sự, kinh tế và chính trị của TQ đôí vơí VN  là để chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ lục địa Tây Nam Trung Quốc sang Thái, Lào, Việt Nam và quốc tế , và biết bao lợi ích khác nữa cho TQ.

Những dự kiến trên đây không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm lý tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của TQ hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt.
Xuyên qua 7 điểm đã phân tích ở phần trên, việc phát triển ở VN đang trong tình trạng bế tắc, VN đang tiếp tục đi theo chiều hướng kinh tế chỉ huy, không thể hội nhập vào tiến trình tòan cầu hóa trên thế giới , để rồi cuối cùng giải pháp thần phục vẫn là giải pháp dễ nhất và an toàn nhất cho công cuộc bảo vệ quyền lực.
Từ những lý do đó, các lãnh đạo VN đã làm mất niềm tin của người dân.

Biết đến bao giờ thái độ thần phục của Việt Nam được chấm dứt để cho người dân Việt có khả năng đứng vững trên hai chân của mình. Lịch sử Việt Nam trong tương lai chắc chắn sẽ không quên ghi lại những trang sử đen tối của dân tộc trong giai đoạn nầy.
Lời kết ,
Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của TQ và lý tính thuần phục của VN hiện tại.
Đất Nước là Đất Nước của chung, của cả dân tộc. Từ người lãnh đạo quản lý Đất Nước cho đến người dân cùng đinh trong xã hội cần phải được dự phần và chia xẻ trách nhiệm đối với Đất Nước.
Việt Nam từ bao năm nay, có biết bao chính sách, kế hoạch… bị phá sản mà nhân sự đề ra chính sách vẫn ung dung tự tại trên cương vị cũ, có khi càng cao hơn để có điều kiện đề ra những chính sách phá sản khác! Đó là một trong nhiều nghịch lý làm trì trệ sự tiến hóa và phát triển của Dân tộc.
Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, có thể nói qua những phân tích trên đây, mọi hành xử của cộng sản VN đều do cộng sản TQ điều khiển từ xa; VN hoàn toàn không còn khà năng quyết định vận mệnh của đất nước nếu không có sự “góp ý”  của TQ. Qua việc đàn áp người dân trong nước trong khi biểu tình chống TQ lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như qua việc VN để công an TQ đàn áp người dân trong khi biểu tình chống việc rước đuốc thế vận vừa qua đủ để nói lên tính nô lệ TQ của nhà cầm quyền cộng sản VN hiện tại.
Hiện tại, nội bộ đảng cộng sản VN đang có nhiều rạn nứt trầm trọng, và rạn nứt nầy có thể làm cho đảng cộng sản tan rã trong tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải chờ đợi trong thụ động mà tất cả người Việt trong nước hay tại hải ngoại cần phải thúc đẩy càng mạnh thêm để tiến trình dân chủ và nhân quyền ở VN diễn ra càng nhanh hơn nữa.
Sách Lịch sử Việt Nam của Cụ Trần Trọng Kim có ghi là Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trãi qua bốn lần bị Bắc thuộc. Ngày hôm nay, có thể được ghi thêm là Bắc thuộc lần thứ năm kể từ ngày 3 tháng 2 năm 1930 và kết thúc vào ngày …

                   …   Ngày đó sẽ do tất cả người Việt trong và ngoài nước quyết định

Đai diện Miền Đôn Hậu

       Như Mẫn

 


Một Kinh Nghiệm Trên Hy Mã Lạp Sơn

 

Matthieu Ricard là người đã sống trên triền núi Hy-mã-lạp-sơn từ bốn mươi năm nay. Ông sẽ kể cho chúng ta nghe cuộc sống hàng ngày của một người tu hành, và cả những kinh nghiệm của ông về thiền định và khoa học. (Đây là bài báo do chính ông M. Ricard viết và đăng trên nguyệt san quốc tế nổi tiếng của Mỹ là tờ National Geographic, qua ấn bản tiếng Pháp, số 100 kỷ niêm đầu năm 2008. Các hình ảnh trong bài báo cũng do chính ông chụp. Trong số báo này còn có các bài khác nói vể dân tộc Tây tạng và kinh đô Lhassa. Hoang Phong lược dịch.)

Đối với tôi, Phật giáo đã trở thành những gì thật căn bản cho đời tôi. Cố gắng đạt được sự hiểu biết nội tâm, tìm hiểu bản chất của tâm thức, nắm vững được sự vận hành của hạnh phúc và khổ đau, là những gì khơi động trong tôi từng giây phút một trên đường tu tập hầu cải thiện cuộc sống của chính tôi. Con đường ấy mang những sắc thái triết học và những suy tư sâu xa, và thêm cả sự thành kính nữa, nó đã giúp tôi hướng về thể dạng « Giác ngộ », biểu hiện của một vị thầy tâm linh là Đức Phật.

Cuộc đời tôi bổng nhiên đổi hướng, sự đổi hướng ấy xảy ra vào ngày 2 tháng 6 năm 1967. Ngày hôm đó, tôi có dịp làm quen với một người mà sau này đã trở thành vị thầy tâm linh của tôi, đó là vị đại sư Kangyour Rinpoché. Lúc ấy tôi mới 20 tuổi và đang chuẩn bị bước vào viện Pasteur để soạn một luận án tiến sĩ (1) về khoa tế bào di truyền học trong phòng thí nghiệm của Giáo sư François Jacob, người đoạt giải Nobel về y khoa năm 1965 (cùng với hai vị giáo sư khác là André Lwoff và Jacques Monod). Nhưng thật ra trước đó, từ năm 1966 tôi đã quyết tâm lên đường sang Ấn độ, sau khi xem các bộ phim hết sức ngoạn mục của một người bạn là Arnaud Desjardin nói về các vị đại sư Tây tạng phải rời bỏ xứ sở của mình bị   Trung quốc xâm chiếm và họ đang sinh sống trên các triền núi phía Nam của Hy-mã-lạp-sơn. Vào thời bấy giờ, tìm đến những nơi này quả thật là một sự phiêu lưu. Tôi phải chọn các chuyến bay rẻ tiền và vì thế mà chuyến du hành phải mất nhiều tuần, hơn nữa tôi lại không nói được tiếng Anh sành sỏi. Sau những chuyến du lịch bằng tưởng tượng qua sách vở thì giờ đây tôi đang bắt đầu một chuyến du hành tâm linh thật sự.
Vị đại sư Kangyour Rinpoché quả thật là một vị thánh, một sinh linh hoàn hảo, một nhà hiền triết. Có thể nói đó là hình ảnh của thánh Françoise d’Assise hay của các nhà hiền triết thuộc thời kỳ Cổ đại đã từng ám ảnh đầu óc tôi trong những ngày thơ ấu.
Bạn bè nói cho tôi biết tên của ông ta, và khi vừa đến Darjeeling , tôi đã tìm ngay được ông. Gần như suốt ngày hôm ấy tôi ngồi trước mặt ông, cố gắng chập chửng « thiền định », nhưng thật sự ra là ngồi trầm tư bên cạnh ông thì đúng hơn. Sự hiện diện của ông đã đem đến cho tôi thật nhiều xúc cảm… Cái sâu xa, cái sức mạnh, cái trong sáng và nhất là cái tình thương toả rộng từ thân xác ông đã khai mở tâm trí cho tôi. Ông là một trong số những sinh linh đã hiểu được thế  nào bản thể đích thực của sự hiện hữu. Một vị thầy đích thực không phải chỉ biết giảng dạy mà còn phải biết đem cả sự hiện hữu của chính mình để làm gương sáng. Sau vài tuần bên cạnh ông, tôi quyết định tiếp tục khám phá thêm vùng đất mới này : từ Bắc Ấn, Ba-la-nại cho đến Cachemire…Vào thời bấy giờ, Darjeeling và Katmandou chỉ là những thị trấn nhỏ bé và êm đềm, không giống như ngày nay đã trở thành những đô thị đông đúc, kẹt xe và chật cứng người.
Tôi ngao du ba tháng trong khu vực đó của thế giới. Và chính ba tháng ấy đã thay đổi cả cuộc đời tôi sau này.
Khi trở về quê hương để bắt đầu năm khảo cứu đầu tiên ở Viện Pasteur thì tôi mới chợt nhận ra rằng cuộc gặp gở với thầy tôi đã tác động trong tôi một cách thật sâu xa. Những phẩm tính của ông cứ vương vấn mãi trong tâm hồn tôi. Tôi đã ý thức được chính đó là một một cái gì thật đích thực thu hút sự hiện hữu của tôi và sẽ mang lại cho cuộc sống của tôi một ý nghĩa, mặc dù trong lúc ấy tôi cũng chưa đủ sức để hình dung được cái ý nghĩa ấy như thế nào.
Năm sau vào dịp nghỉ hè, tôi vội vã trở lại Darjeeling . Và cứ tiếp tục như thế, mỗi năm tôi trở lại đây, rồi đến năm thứ sáu tôi nhất quyết chọn lấy cho mình một quyết định, một quyết định mà không bao giờ tôi hối tiếc : tôi muốn được sống trong một nơi mà tôi hằng mong ước, và thế đó tôi đã lưu lại Darjeeling từ năm 1972. Dĩ nhiên là việc ấy đã làm cho vị thầy của tôi là Giáo sư François Jacob vô cùng sửng sốt. Về phần cha tôi là triết gia Jean-François Rével thì ông rụng rời cả tay chân. Riêng mẹ tôi là họa sĩ Yhane Le Tourmelin, cũng như người cậu của tôi là Jaques-Yves Le Toumelin, một nhà đi biển phiêu lưu và đơn độc, lại tán thành lý tưởng của tôi. Sau này mẹ tôi cũng sang Ấn độ và cùng tôi tu học với các vị thầy của tôi.

Sau khi vị đại sư Kangyour Rinpoché qua đời vào năm 1975, tôi tiếp tục tu tập trong một chiếc am nhỏ trên núi, cũng không xa tu viện của tôi bao nhiêu. Chính trong khoảng thời gian này, tôi đã gặp được vị thầy thứ hai là Dilgo Khyentsé Rinpoché, và tôi đã theo bên cạnh vị sư này mười hai năm không rời bước, từ Bhoutan đến Ấn độ, từ Népal đến Tây tạng. Tôi lắng nghe ông giảng dạy, hầu hạ ông và cùng ông du hành. Sau đó, từ năm 1979 thì tôi đã trở thành một nhà sư thật thụ. Khi vị thầy thứ hai của tôi rời bỏ thế giới này vào năm 1991 thì tôi lui về một am nhỏ ở Népal, trong một vùng núi cách Katmandou vài giờ đường bộ, đây là một nơi ẩn cư do tu viện Schéchén quản lý, và tu viện này cũng chính là nơi cư ngụ thường xuyên của tôi. Những khoảng thời gian trên đây đã mang lại cho tôi những gì phong phú nhất trong suốt cuộc sống của tôi. Từ đó mỗi năm tôi sống ít nhất là tám tháng ở Á châu (Népal, Tây tạng, Bhoutan, Ấn độ) và phần thời gian còn lại tôi thường lưu trú tại Âu châu và Hoa kỳ.
« Quyển sách Một nhà sư và một triết gia, ghi lại cuộc đối thoại với cha tôi, đã gặt hái được kết quả tốt, và tôi đã dùng toàn bộ tiền bản quyền vào việc từ thiện» 
 Trong khoảng thời gian gần hai mươi năm, từ các miền Darjeeling đến Bhoutan, tôi chỉ cần vỏn vẹn khoảng 30 euros mỗi tháng là đủ sống. Nhưng khi quyển sách « Một nhà sư và một triết gia » được xuất bản, ghi lại cuộc đối thoại giữa cha tôi là Jean-François Rével (2) và tôi, thì bổng nhiên tôi nhận được một khoản tài chính quan trọng nhờ vào sự thành công của quyển sách mà số bán đã lên đến 350 000 quyển chỉ riêng trên đất Pháp. Tôi không hề có một thoáng ý định nào dùng số tiền ấy để mua một căn nhà hay mua một chiếc xe, trái lại tôi quyết định cống hiến tất cả tiền nhuận bút của quyển sách trên đây và cả những quyển sách khác xuất bản sau này cho các chương trình từ thiện. Đây là dịp đem ra thực hành những lời giảng huấn về lòng từ bi mà tôi từng được học từ nhiều năm nay. Nhờ đó mà các dự án Karuna-Schéchèn có thể bước sang giai đoạn thực hiện. Karuna trong tiếng Phạn có nghĩa là Từ bi và Scéchèn là tên của tu viện mà tôi đang tu học. Ngoài số bạn bè tình nguyện tham gia vào các chương trình này, còn có một số người hảo tâm khác nữa đã ủng hộ chúng tôi. Đến nay chúng tôi đã thiết lập được ba mươi dự án do chính chúng tôi đứng ra điều hành – gồm sáu bệnh viện, mười trường học, các trung tâm chăm sóc người già và trẻ mồ côi, xây cầu đường v.v. ở  các miền Tây tạng, Népal, Ấn độ và Bhoutan. Chúng tôi đã chăm sóc cho 1 500 trẻ em và chữa trị cho 90 000 ngàn bệnh nhân, hơn một nữa số bệnh nhân này được hoàn toàn miễn phí. Ngoài niềm vui sướng khi được dịp phục vụ cho người khác, tôi còn rất hãnh diện khi thấy lòng từ bi đã mang lại nhiều hiệu quả, vì chi phí điều hành chỉ mất có 2% trên tổng số ngân khoản chung. Tu viện Schéchèn nơi lưu ngụ chính thức của tôi cũng là một nơi để gặp gỡ và học hỏi. Ngoài tu viện với 300 tỳ kheo, chúng tôi còn quản lý một trường trung học giảng dạy triết học với học kỳ kéo dài chín năm, một trường hội họa chuyên về tranh ảnh tôn giáo với số học viên hiện nay là sáu mươi người, cả nam lẫn nữ, cả sư sãi và người thế tục, họ đang theo một khoá đào tạo kéo dài sáu năm. Thêm vào đó lại có cả một trung tâm ấn hành kinh sách Tây tạng và trung tâm này đã in được 400 bộ kinh trong thời gian ba mươi năm vừa qua, các kinh sách ấy được trích ra từ kho tài liệu đồ sộ của tu viện. Một trong số những tài liệu quan trọng, nhất là bộ sưu tập về nghệ thuật Tây tạng bằng phóng ảnh. Vì thế sinh hoạt của tu viện lúc nào bận rộn, mỗi lần về đây tôi làm việc suốt bảy ngày một tuần từ sáng cho đến tối.
Tuy nhiên cũng phải tu tập, và thật may mắn tôi được cấp một cái am nhỏ nhìn lên Hy-mã-lạp-sơn để làm nơi tĩnh tâm, am chỉ cách Katmandou vài giờ đường bộ. Thật vậy niềm phúc hạnh chân thật, vẹn toàn và vững bền mà tiếng Phạn gọi là sukha chỉ có thê đạt được khi nào loại bỏ được sự u mê tâm thần và những xúc cảm đối nghịch. Niềm phúc hạnh đó là một thứ trí tuệ giúp nhận biết được thế giới này đúng với bản chất của nó, không bị che lấp cũng không bị méo mó. Và niềm phúc hạnh đó cũng tượng trưng cho sự hân hoan được bước vào con đường giải thoát nội tâm và lòng nhân từ tràn đầy yêu thương toả rộng đến mọi người chung quanh.
« Người ta thường gán cho tôi cái biệt danh là ‘’người  sung sướng nhất trên đời’’. Nhưng thật ra bất cứ ai cũng đều có thể trở nên sung sướng nhất trên đời khi họ biết tìm cái hạnh phúc ấy vào đúng chỗ của nó »
Trước đây tôi có tham gia vào các buổi họp của nhóm Tâm linh và Sự sống tại Dharamsala, nơi lưu ngụ của Đức Đạt-lai Lạt-ma trên đất Ấn. Và từ đó sự hợp tác càng trở nên chặt chẻ hơn. Chúng tôi đưa ra một chương trình quy định việc nghiên cứu thiền định. Chúng tôi hợp tác với một số các chuyên gia lỗi lạc nhất trên thế giới về thần kinh học, trong đó có những chuyên gia thuộc các đại học như Madison ở Wisconsin , Princeton , Harvard, và gần đây hơn là đại học Maastrich tại Hòa lan. Chúng tôi nghiên cứu về lòng vị tha và từ bi, vì đó là những xúc cảm mang tính cách tích cực hơn hết trong số các xúc cảm, những xúc cảm này làm phát sinh những làn sóng gamma cực mạnh trong não bộ.
Đối tượng của các công cuộc nghiên cứu trên đây gồm có các ảnh hưởng ngắn và dài hạn do thiền định mang lại trong việc biến cải tâm linh, các công cuộc nghiên cứu này có mục đích tìm kiếm một giải pháp thực tiển để giải quyết các khó khăn muôn thuở và điên đầu do những xúc cảm mang tính cách tệ hại gây ra. Nhu cầu khảo cứu đòi hỏi tôi phải chịu đựng năm mươi giờ IRM (3). Kết quả do việc nghiên cứu này đã làm cho một số cơ quan truyền tin và báo chí đem gán cho tôi cái biệt danh là « người sung sướng nhất trên đời ». Điều ấy chẳng có nghĩa gì cả. Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể là « người sung sướng nhất trên đời » nếu họ biết đi tìm cái hạnh phúc ấy đúng vào chỗ của nó. 
Bures-Sur-Yvette 
Người dịch : Hoang Phong 
 
Ghi chú của người dịch :
1- Hai mươi tuổi đã soạn luận án tiến sĩ có nghĩa ông là một sinh viên khác thường. Muốn soạn luận án tiến sĩ ít nhất trước đó phải thi đậu các bằng cử nhân và cao học. Người ta cho biết là ông đậu tú tài lúc mới mười ba tuổi. Ngoài ra, cũng không phải là dễ để được một giáo sư đoạt giải Nobel nhận làm học trò.
2- Jean-François Rével (1924-1992) : không phải là tên thật mà chỉ là bút hiệu, vì chính ông không muốn giữ cùng một họ với con mình vì cả hai đều rất nổi tiếng. Ông là triết gia, học giả, nhà văn, nhà báo, bình luận gia…và  cũng là thành viên của Hàn lâm Viện Pháp. 
3- Máy ghi nhận hình ảnh bằng cộng hưởng từ, tiếng Anh viết là MRI. Trong trường hợp trên đây, các khoa học gia về thần kinh học quan sát bộ nảo của ông M. Ricard bằng IRM trong khi ông thiền định và nhận thấy ông đang chìm trong một trạng thái sâu xa và êm ả nhất của sinh hoạt não bộ.
 

Phần đóng khung trong bài báo :
Thầy và đệ tử
Hai vị thầy, đồng thời cũng là hai sinh linh khác thường, đã đưa tôi vào con đường Phật pháp : vị thầy thứ nhất của tôi là Kangyour Rinpoché, sau khi vỉ này qua đời vào năm 1975 thì tôi gặp được vị thầy thứ hai Dilgo Khyentsé Rinpoché.  
Vào những năm đầu của thập niên 1980, nhờ vào vị thầy thứ hai mà tôi đã gặp được Đức Đạt-lai Lạt-ma. Chính Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng xem Khyentsé Rinpoché là một trong những vị thầy chính thức của Ngài và mỗi năm Ngài đều mời ông về ở chung với Ngài từ một đến hai tuần để có dịp học hỏi thêm. Cũng giống như vị thầy trước đây của tôi, Khyentsé Rinpoché có một chiều rộng tâm linh và một tấm lòng nhân ái khác thường, những phẩm tính đó đã giúp ông cảm nhận được được bản chất đích thực của mọi sự hiện hữu. Tuy ông ban ra những lời giáo huấn, nhưng thật ra và đúng hơn thì ông là hiện thân của chính những lời giáo huấn ấy.  

 

  Khi tôi gặp Đức Đạt-lai Lạt-ma tại Paris vào năm 1989, Ngài có nhờ tôi thông dịch tiếng Tây tạng sang tiếng Pháp, và kể từđó tôi đã trở thành người thông dịch cho Ngài, mỗi năm độ một hai lần. Dù trước công chúng hay trong cuộc sống riêng tư, Đức Đạt-lai Lạt-ma luôn luôn là một tấm gương, đúng với những gì Ngài giảng dạy : đơn sơ, từ bi và trí tuệ. Nhờ Ngài, tôi được tiếp xúc với rất nhiều khoa học gia, nhất là trong lãnh vực thần kinh học, họ chuyên khảo cứu về những ảnh hưởng của thiền định đối với não bộ. (Hình trên: Matthieu Ricard (trái) và Đạt Lai Lạt Ma, April 17, 1997, trước khi cuộc họp báo của ông tại Đài tưởng niệm Hòa bình ở Caen . Ảnh AFP) 

 
Hình 1: Nhà sư Matthieu Ricard ngồi thiền trước băng hà của  
ngọn núi Chomo Lhari (7326m), một trong những ngọn nuí cao nhất của xứ Bhoutan


Hình 2a và 2b: Tu viện Schéchèn, trong vùng lãnh thổ Kham, thuộc miền Đông Tây Tạng

dzong
Hình 3: Một Dzong trong thung lũng Paro, thuộc xứ Bhoutan, dzong là một
nơi vừa làm tu viện vừa làm cơ quan hành chánh địa phương.

 
Hình 4: Kangyour Rinpoché vị thầy thứ nhất của ông Matthieu Ricard


Hình 5: Ông Matthieu Ricard vào năm 1981, tại thang Rémochèn, một thánh đại của xứ Bhoutan

 


Hình 6: Đức Đạt-lai Lạt-ma và Ông M. Ricard trong dịp gặp gỡ
Quốc hội Âu Châu tại Strasbourg, vào tháng 10/2001


Hình 7: Vùng Boumthang, xứ Bhoutan, ở độ cao 3,000 mét
Buồi lễ cống hiến cho vô thường của sự sống vừa chấm dứt.


Hình 8a và 8b: Những thửa ruộng trêng triền núi thuộc tỉnh Amdo, Tây Bắc Tây Tạng


Hình 9a và 9b: Người dân thuộc miền Đông Tây Tạng, từ trái sang phải và từ trên xuống dưới:
 1/ Một đứa bé trai, 2/ Một người thợ mộc làm nhà,  3/ Một người đàn ông Dzongsar
 4/ Một vị lương y, 5/ Một phụ nữ vùng Golok, 6/ Một người sống ẩn dật, 7/ Một đứa bé vùng Dzongsar.


Hình 10: Một rừng cờ dùng vào việc tụng niệm
các lá cờ buộc vào các thân tre.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hãy Buông Nó Ra!!!

  Đơì người như hạt sương rơi
Lung linh một thoáng mặt trời chiếu tan…

 Tôi nghe buổi Thuyết Pháp tại chùa Thiên Môn. Xin thuật lại để quí vị cùng nghe. Sau phần thuyết giảng, đến phần Pháp đàm. Thầy mời quí Phật tử đặt câu hỏi để cùng thảo luận.
Tận cuối hội trường, có một ông già, đứng dậy chắp tay cung kinh xin hỏi:

- Kính bạch thầy. Con hiện đang bị bệnh. Hết đau đầu đến đau khớp, đau thận, tiểu đường, cao huyết áp. Bây giờ lại bị bại một chân nữa ạ! Suốt đêm qua con trằn trọc mãi không sao ngủ được do bệnh nó hành hạ xác thân… Cúi xin thầy thương xót chỉ bảo cho con làm sao cho hết đau bệnh? Xin thầy cầu nguyện Ðức Phật gia hộ cho con được hết bệnh, khỏe mạnh như xưa…
Thầy lên tiếng nhỏ nhẹ, thong thả nói: – Thưa bác, thưa đạo hữu. Ðức Phật đã dạy: Cõi thế gian tràn đầy đau khổ! Trong đó có định luật: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ thì đau khổ vô cùng mà bác thì đang đi vào giai đoạn “Bệnh tật”, tức giai đoạn “Hư hoại”. Vạn vật là thế; tất cả đều bị luật “Vô Thường” chi phối. Chẳng hạn như cái áo bác đang mặc, khi mới mua về, vẻ đẹp đẽ, mềm mại, óng mướt, tươi thắm… Nhưng nay bác mặc đã lâu rồi; màu đã bạc, gấu đã sờn, vai đã rách và vải đã mục. Nó đang ở tiến trình hư hoại! Không có gì có thể còn mãi được, vì bản chất tự nhiên là như vậy, mà thân xác bác cũng đang như vậy. Ngay khi bác mới sinh ra thì bác xinh đẹp, rồi bác lớn lên khỏe mạnh. Giờ đây bác đang già yếu và đang ở thời kỳ bệnh hoạn (Sanh, Trụ, Hoại, Diệt). Vậy bác phải chấp nhận điều đó, bác hãy thấu hiểu bản chất của nó, để bác phải chấp nhận nó mà sống an lạc với nó, dù nó ở bất cứ giai đoạn nào.
Bây giờ thân thể của bác đang bắt đầu suy yếu, hư hoại theo tuổi đời chồng chất. Thì bác đừng cưỡng lại điều đó, vì đó là qui luật tự nhiên của thân xác. Chân lý không bao giờ thay đổi đó là: Sinh ra > Già cỗi > Bệnh hoạn > Rồi chết đi! Không cách chi làm khác đi được. Thời gian vận hành của định luật đã chín mùi rồi đấy bác ạ! – -
Ông già đó nói tiếp: – Bẩm thầy, nhưng con chưa muốn chết vội, vì con và cháu của con chưa khôn lớn. Nhất là còn nhiều công việc con đang làm dở dang chưa hoàn tất, con cần giải quyết cho xong đã.
  – Ồ! Tất cả chỉ là vậy, bác chẳng làm gì khác hơn khiến bác phải lo lắng. Công việc của thề gian, bác hãy để mặc thế gian cho họ tự giải quyết lấy. Bác nên hiểu rằng: Giầu hay nghèo, già hay trẻ, đẹp hay xấu, người hay vật. Bất cứ ai, bất cứ vật gi, bất cứ ở đâu cũng không thể giữ mãi tình trạng nguyên thủy như lúc ban đầu được. Mọi người, mọi vật đều phải thay đổi khác đi theo một định luật: Sinh, Trụ, Hoại. Diệt mà không cách chi sửa đổi được. Ðiều mà bác có thể làm được là bác tự quán chiếu, soi rọi về thân xác và tâm thức của bác, để bác thấy tính: “Vô ngã” của vạn vật. Ðể không thấy có cái gì là “Tôi hoặc là của tôi”, mà chỉ là giả có, tạm có mà thôi (Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. = Cái gì có hình có tướng, đều là giả có, chứ không thật có). Ngay như nhà cửa, sự nghiệp, danh vọng, vợ, chồng, con cái của bác cũng chỉ là: “Của bác trên danh nghĩa, chúng không thực sự thuộc về bác. Chúng thuộc về tự nhiên!!! Như lời bác vừa cầu mong, chẳng những không đạt được. Thân bác vẫn đau đớn như thường và cách suy nghĩ sai lầm của bác còn đau khổ hơn nhiều nữa. Vì cầu mong mà không được là khổ (Cầu bật đắc khổ). Bởi vậy, bác phải nhìn mọi thứ đúng theo bản chất của nó và đừng níu kéo nó, đừng tiếc thương nó: “HÃY BUÔNG NÓ RA”. Bác hãy rũ sạch mọi thứ bên ngoài. Bác hãy “Buông ra!”. Bác đừng bám víu vợ, chồng, con cái, quyến thuộc, tài sản, công danh… Vì nhưng thứ đó bác không thể mang theo được, hoặc bác không “buông”, thì nó cũng phải “buông” bác mà thôi. Cho nên bác “Hãy Buông Ra!”, bởi mọi thứ đều Vô Ngã: “Không tôi và Không của tôi”. Tất cả rồi sẽ biến mất; chẳng còn gì. Bác phải nhận biết cho bằng được điều này, và sau khi biết rồi thì bác hãy ‘buông’ tầt cả. Ðừng bận tâm về con cái, bây giớ chúng còn trẻ. Rồi mai này chúng cũng sẽ già cả y như bác ngày hôm nay. Không ai trên thế gian này có thể trốn thoát được định luật: sinh tru hoại diệt… Nếu bác “Buông ra” được mọi thứ thì bác mới thấy được chân lý. Vậy bác đừng lo lắng và đừng ôm giữ bất cứ điều gì thì bác sẽ thanh thản trong mọi tình huống bác ạ!

Ông già hỏi nữa: – Bẩm bạch thầy, nghe thầy dạy dễ quá, nhưng làm sao con ‘buông ra’ cho được?

 - Nếu bác ‘buông ra’ không được thì bác sẽ vô cùng đau khổ. Vì không ‘buông ra’ cũng chẳng được. Bởi mọi thứ nó không thuộc về của bác, kể cả chính xác thân bác nữa. Lúc này bác hãy tập trung tâm tưởng, để cho nó được an nhiên tự tại, còn mọi việc đã có người khác lo. Bác hãy tự nhủ lòng rằng: “Chung sự” (Tôi hết việc rồi )- Tư tưởng ham sống lâu sẽ làm bác đau khổ. Cho dù bác mong muốn thiết tha tới đâu cũng chẳng được. Muôn sự đều vô thường và luôn luôn không cố định… “Sau khi sinh ra > Nó biến hoại > Sau khi sinh ra > Nó diệt đi !  Ðức Phật cũng thế, bác và cả bàn dân thiên hạ cũng đều như thế. Vậy mà bác muốn xác thân bác còn mãi sao được?
Bác hãy nhìn vào hơi thở thì biết. Nó đi vô rồi lại đi ra, bản chất của nó là vậy. Bác chẳng thể ngăn cản sự đi ra và đi vô của nó được. Bác thử nghĩ coi: “Có thể nào bác thở ra mà không thở vào được chăng?”. Tức là hơi thở nó đi vào, rồi nó lại đi ra. Khi nó ra rồi thì nó lại phải đi vào. Tự nhiên là như vậy, không cách chi làm khác được. Y chang sự quá trình bác sinh ra > rồi già nua > rồi bệnh tật > rồi chết đi! Ðó là điều hoàn toàn tự nhiên và bình thường…
Nếu bác không sinh ra, thì lấy gì bây giờ bác bị đau bệnh! Và lấy gì để mai mốt bác chết! Bác có hiểu điều đó không ???

- Kính bạch thày, con ngộ được những gì thầy vừa dạy, nhưng con vẫn lo sợ quá chừng!

Thầy cầm ly nước uống nhấp giọng, đoạn thày nói thêm:
- Bác nên hiểu rằng: Vạn sự ở đời là như vậy, khi bác nhận thức được đúng đắn thì bác đừng do dự: “Hãy buông ra tất cả, hãy dẹp bỏ tất cả”. Dù bác không buông nó ra thì mọi thứ nó cũng bắt đầu buông bác ra đó. Này nhé! Như những bộ phận trong cơ thể của bác nó cũng đang muốn rời xa bác đấy. Vì những bộ phận ấy nó đã sống đủ thời hạn với bác rồi, nên nó sắp ra đi đó. Bản chất của nó là: “Ðã đến, thì phải ra đi”. Bởi thế gian là không có sự bình thường hay mãi mãi, dù bất cứ ở đâu, bất cứ thời nào, bất cứ thành phần giai cấp nào; người giầu có, kẻ nghèo khó, người lớn cũng như trẻ nhỏ, người có học cũng như người thất học…v.v. Cũng không thể có sự bình thường được. Ai ai cũng phải xoay vần theo luật “Vô Thường” chi phối. Quán triệt được điều đó, bác sẽ chả còn quyến luyến bất cứ sự gì. Bác hãy ‘Buông ra” chứ không còn nắm giữ được nữa, ví có giữ cũng chẳng đặng. Bác buông ra, thì tâm bác sẽ thảnh thơi; không buồn mà cũng chẳng vui, không khiếp sợ và cũng chẳng liều lĩnh. Lúc bấy giờ lòng bác sẽ an ổn với trí tuệ hiểu biết: “Vạn vật không bao giờ có thể thường còn mãi mãi được”.

“ÐẶC TÍNH PHẢI ÐỔI THAY CỦA VẠN VẬT, KHÔNG BAO GIỜ THAY ÐỔI”..

Nếu bác có nhiều thứ, bác sẽ phải bỏ lại nhiều thứ, bác sẽ phải bỏ lại nhiều thứ. Nếu bác có ít thứ, bác sẽ bỏ lại ít thứ; giầu có là giầu có, nổi danh là nổi danh, sống lâu là sồng lâu… chẳng có gì khác biệt, mọi sự cũng thế thôi! Vậy bác hãy buông nó ra, buông cho đến khi nào tâm trí bác an lạc! Mọi sự bác không còn cảm thấy khổ đau hay sung sướng. Mọi- thứ bác không còn thấy là của bác nữa; Sung sướng và khổ đau cũng đểu Hoại, Diệt và Mất tiêu như nhau… Duy chỉ có một thứ là còn và còn vĩnh viễn là của bác. Ðó là “Phật tánh” là vĩnh cửu của bác mà thôi.

  – Kính bạch thầy, con đã ngộ!!!
- Vậy sao! Bác giải thích xem nào ?

 - Thưa thầy, chỉ có định luật: Vô Thường” là bất biến, là vĩnh cửu, là thường còn. Ngoài ra, tất cả các Pháp; muôn vàn vạn sự ở đời này đều luôn luôn biến đổi không bao giờ ngừng. Chẳng hạn như:
*THÂN VÔ THƯỜNG: Nay khỏe mạnh, mai ốm đau. Nay đang sống, mai đã chết…
*TÂM VÔ THƯỜNG: Nay đang mến thương nhau, mai chuyển sang hận thù ân oán nhau…
*TÀI SẢN VÔ THƯỜNG: Của cải nay còn, mai hết. Tức là tiện nghi vật chất không thể tồn tại mãi được… Vật thể này biến đổi chất liệu thành ra vật thể khác. Sự vật không bao giờ cố định cả.
 Thầy cười hoan hỷ, đoạn thầy hỏi:
 - Ðúng, bác hiểu khá đấy, như vậy bác sẽ làm gì khi bác hiểu như vậy?

 - Kính bạch thầy, con sẽ buông ra tất cả mà không bám víu vào bất cứ điềi gì trên thế gian này. Ðể mọi sự chảy suôi như dòng nước. Tính của nước luôn chảy xuống chỗ chũng (thủy lưu tại hạ), dù chỗ đó là đất hay cát, hoặc ruộng vườn. Bản chất của nước là như vậy, con cũng phải giữ tâm như vậy. Tại sao? Bẩm thưa thầy, bởi nước luôn chảy một cách tự nhiên xuống chỗ thấp mà không có cách nào cho nó chảy một cách tự nhiên lên trên cao được. Ðó là định luật của càn khôn vũ trụ mà thầy vừa chỉ dậy cho con.

 - Vâng! Bác hiểu được như thế, tức là bác đã thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của bác rồi đấy. Bây giờ chỉ còn một điều là bác đưa vào thực hành những gì bác vừa chứng ngộ là đạt quả Phật rồi đó.
  Ông già ngạc nhiên thưa:
- Kính thưa thầy, con ngỡ là thành Phật khó lắm chứ! Ðâu đơn giản như thầy vừa nói ? -

 - Phật đã có sẵn ngay trong bác rồi. Nguời đời thường mang ông Phật thật, đi tìm kiếm ông Phật ơ ngoài, ở chốn xa xôi không sao thấy được, để cầu xin van vái… Trong lúc ông Phật ở ngay trong mình thí lại bỏ quên.

  – Bạch thầy, con vốn ngu tối xin thầy khai thị cho con được rõ ràng hơn, chứ thầy nói như thế làm sao con hiểu được.

  – Có khó gì đâu: “Phật Tức Tâm”. Mọi người trong chúng ta đã có sẵn một ông Phật ở trong ta rồi. Nhưng vì u mê tăm tối, nên tham lam: Sắc, Tài, Danh một cách vô độ mà không hiểu rằng những thứ đó do nhân duyên giả hợp tạm có. Hợp rồi tan, sinh rồi diệt! ngay như xác thân bác cũng tạm có đó. Rồi trở thành không đó có bao lâu! Tựa hồ như bóng phù du, như ào ảnh, như khói sương… Nhưng vì si mê chạy theo níu kéo nó. Nên thành chúng sinh mà thôi. Bây giờ bác đã giác ngộ và bác buông ra những thứ mà trước đây bác bám víu vì ngỡ là thật… Vậy là bác đã thành Phật rồi. Bởi Phật và Chúng sinh chỉ khác nhau có một bước:

MÊ LÀ CHÚNG SINH, GIÁC NGỘ LÀ PHẬT

Phật và chúng sinh, chỉ khác nhau có vậy. Ví dụ: Ông bà thân sinh ra bác, cho bác ăn học tới nơi tới chốn; là con người trí thức đàng hoàng… Nhưng vì u mê! Bác ham chơi, đàn đúm với chúng bạn, sa đà say sưa trác táng, hưởng thụ thú vui vật chất, dẫn đến sa đọa hư hỏng. Khi ấy, bác là kẻ tồi tệ xấu xa… Nay gặp duyên may bác giác ngộ. Thấy được lẽ thật. Bác bỏ con đường hư thân mất nết, trở lại con người thật của mình… Với bằng cấp và kiến thức có sẵn của mình. Bác tận tụy làm ăn, liêm chính, giữ uy tín đạo đức… Là bác trở thành người cao sang, quí phái… Như vậy, một con người của bác có hai giai đọan:
a) Giai đoạn 1: Bác là kẻ xấu xa, cho dù bác có bằng cấp là người học thức.
b) Giai đoạn 2: Bác là người cao quí. Do bác giác ngộ được chân lý đạo Pháp…
Tức là trước thì bác kà kẻ xấu xa do u mê! Sau bác thành người cao quí do bác giác ngộ. Nghĩa là xấu xa hay cao quí chỉ khác nhau có u mê hay giác ngộ mà thôi. Và Phật hay chúng sanh cũng chỉ khác nhau có thế…

Ðoạn thầy đọc bài kệ:                                                                                    
 Chiều nay lộng gió thu về
Lá vàng tơi tả tràn trề khắp nơi.
Ðời người như hạt sương rơi .
Lung linh một thoáng mặt trời chiếu tan.
Thân em như đóa hoa lan
Người đời yêu thích muôn vàn đắm say
Nhưng rồi chẳng được bao ngày
Cánh hoa tàn úa đổi thay hoàn toàn.
 

 

Lịch Sữ Chiếc Nón Lá

“Nón nầy che nắng che mưa
Nón nầy để đội cho vừa đôi ta”

                                                                                          Nguyễn Qúy Đại

 Nón lá không xa lạ với chúng ta, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của phụ nữ Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.

Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

- Nón dấu: Nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
- Nón gò găng hay nón ngựa: Sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa.
- Nón rơm: Nón làm bằng cộng rơm ép cứng.
- Nón quai thao: người miền Bắc thường dùng trong lễ hội.
- Nón cời: Nón rách
-Nón gõ: Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa.
- Nón lá sen: Cũng gọi là nón liên diệp.
- Nón thúng: Thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
- Nón khua: Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa.
- Nón chảo: Thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng.
- Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang.
- Nón bài thơ: Ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v…

 

 Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm? Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón.

Với cây mác sắc, người làm nón chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm nức vành. Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.

 

  Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làng quê sau các vụ mùa, ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón?

 Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau nầy người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên Du Quy Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển, người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió. Một loại khác là Bồ Quy Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá.

 

  Ngày nay dù đã phát triển nhưng trên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh.

 Người ta chặt lá nón non còn búp, cành lá nón có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại.

 

 Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón.

 

 Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6 cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khác nhau lên khung. Cái khung nầy phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡ khi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng.

 

 Nón thường chỉ 16 vành tròn làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, Nón bài thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây nầy giống cây sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi) Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính thường 41 cm, người ta phết phiá ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong. Để có được một chiếc nón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ…

 

 Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt nam:

 “Nón em chẳng đáng mấy đồng,
Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham
Nón em nón bạc quai vàng
Thì em mới dám trao chàng cầm tay
Tiếc rằng vì nón quai mây
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm”

 Nón quai thao, hay nón thúng các cô gái Bắc thời xưa chưa chồng thường dùng, ngày nay đến Hà Nội không còn thấy ai đội nón quai thao, trên đường phố cổ trầm mặc dưới bóng cây cổ thụ, thiếu nữ Hà Nội che dù màu, đội mũ lát, đội mũ tân thời, nhưng vào thăm Văn Miếu sẽ thấy trình diễn văn hoá, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa với chiếc nón quai thao.

Thuở xưa, con gái sau khi lập gia đình, bổn phận làm vợ, làm mẹ, họ chỉ chú trọng đến niềm vui tận tụy làm tròn bổn phận trong gia đình, xao lãng những vẻ đẹp bề ngoài.

 “Chưa chồng nón thúng, quai thao
Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai…”

Thân phận của những bóng hồng khi về chiều nhan sắc tàn phai:

“Còn duyên nón cụ quai tơ
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong”

  

Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp, rạo rực vì những bâng khuâng…

Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng. Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn, đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá:

 “Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt
Còn ta mắt anh…
Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Thì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhau
Nửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước… anh nghe chừng sai nhịp.”
                                Thu Nhất Phương

 


Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đò trên sông Hương… và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế:

Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ. Lựa nón, lựa quai, cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề:

 “Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ
Gió cầu vương áo nàng tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”

Nón bài thơ hiện hữu trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ nữ Huế, dùng nón lá nâng hay đựng xoài, cũng tạo nên nét đẹp mỹ miều.

  

 “Anh về Bình Định ba ngày
Dặn mua chiếc nón lá dày không mua” 

 Nón bài thơ đặc sản Huế, nón Gò Găng ở Bình Định còn gọi là nón ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp lá kè non, chằm bằng những đường chỉ tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long-lân-qui-phụng. Quai nón được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản rộng và đều người ta chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm, rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:

 “Cưới nàng đôi nón Gò Găng
Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn”

 

 Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai – một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.

 

 Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành – An Nhơn. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3-4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25-30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50,000 chiếc nón. Gần đây nón Gò Găng còn được xuất cảng sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam:

 “Nhớ nón Gò Găng
Vầng trăng đập đá
Sông dài sóng cả
Người quân tử,
Khăn điều vắt vai…”

 Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đổi thay…

 

 

 

Ân Đức Cha Mẹ trong Tam Tạng Pàli

Đạo Phật, một tôn giáo được nhận thức qua nhiều hình thái khác nhau. từ sự rèn luyện một nội tâm trong sáng, thanh tinh va tỉnh lặng, đến những nhận thức chân thực về đời sống, chí đến một lối sống đạo đức văn hoá phù hợp với mổi con người, mỗi dân tộc, mỗi xã hội và trong mỗi thời kỳ. Một trong những điều ấy, đó là Đức Phật đã nói về Công Ơn Cha Mẹ. Những con người vĩ đại đã mang chúng ta vào trong cuộc đời này. Khi nói về công ơn Cha Mẹ, trong Kinh Đức Phật dạy rằng:

 

Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này…

 

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Hai Pháp, Phẩm Tâm Thăng Bằng, Phần Ðất, Trang 119)

 

 

Để dạy về việc hiếu kính với Cha Mẹ, Đức Phật không những chỉ nói về giá trị vật chất như phụng dưỡng hay lo lắng từng miếng cơm, cái mặc cho Cha Mẹ, mà nơi đây Đức Phật Ngài đã rằng: hướng dẩn Cha Mẹ sống trong Thiện Pháp cũng là một công ơn đáp đền với Cha Mẹ.

 

…Này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.

 

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Hai Pháp, Phẩm Tâm Thăng Bằng, Phần Ðất, Trang 119)

 

 

 

Khi tán thán và xưng tụng Cha Mẹ, Đức Phật đã ví Cha Mẹ với bốn hạng người; Như Phạm Thiên vì người có đủ bốn đức tánh Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỉ và Xã); Như Tiên Nhân vì người luôn che chở mang lại sự an lạc cho con, Như Tiên Sư vì người chính là vị thầy đầu đời của chúng ta; Như là Bậc Ứng Cúng vì người đáng cho ta lễ bái cúng dường.

 

- Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như bậc Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy, này các Tỷ-kheo, được xem là giống như chư Thiên thời trước. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là đáng được cúng dường.

 

Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; các bậc Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; chư Thiên thuở xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; đáng được cung kính cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì mẹ cha giúp đỡ rất nhiều cho các con, nuôi dưỡng chúng lớn và giới thiệu chúng vào đời này.

 

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Bốn Pháp, Phẩm Nghiệp Công Ðức, Phần Bằng Với Phạm Thiên, Trang 684)

 

Lại một so sánh khác về công ơn Cha Mẹ, Ngài đã ví sữa Mẹ như nước đại dương trong bốn bể. Với Phàm trí của chúng ta, ai có thể nghỉ và nói được điều này. Đây là một nhận định về Công Ơn Cha Mẹ với Phật trí.

 

- Các Ngươi nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ngươi đã uống trong khi các Ngươi lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?

 

- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!

 

- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ngươi đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ngươi đã uống trong khi các Ngươi lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.

 

(Tương Ưng Bộ Kinh 2, Chương IV – Tương Ưng Vô Thỉ, Phẩm Thứ Nhất, Phần Sữa, Trang 314)

 

Bổn Phận một người con đối với Cha Mẹ chúng ta phải làm thế nào? Đức Phật dạy rằng:

Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Ðông: “Ðược nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời”. Này Gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Ðông, theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con.

 

Này Gia chủ tử, như vậy là cha mẹ được con phụng dưỡng như phương Ðông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng con theo năm cách. Như vậy phương Ðông được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.

 

(Trường Bộ Kinh 2, Kinh Giáo Thọ Thi-Ca-La-Việt, Trang 541)

 

Một điều khiến cho phải suy nghĩ, tại sao Đức Thế Tôn lại bảo rằng, người biết nghĩ và hiếu đối Cha Mẹ là quá ít so với người không biết nghĩ về ơn dưỡng dục của Cha Mẹ ? “Tình Cha nghĩa Mẹ biển đông, Tình con đáp lại giọt sương đầu cành”. Chúng hãy là trong số ít ấy.

 

- Các Ngươi nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, một ít đất Ta lấy lên trên đầu móng tay, hay là quả đất lớn này?

 

- Cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là quả đất lớn này. Còn ít hơn là một ít đất Thế Tôn lấy lên trên đầu móng tay. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh quả đất lớn với một ít đất được Thế Tôn lấy lên trên đầu ngón tay.

 

- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với mẹ. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với mẹ.

 

… – Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ít hơn là các chúng sanh có hiếu kính với cha. Và nhiều hơn là các chúng sanh không hiếu kính với cha.

 

(Tương Ưng Bộ Kinh 5, Chương XII – Tương Ưng Sự Thật, Phẩm Bánh Xe Lược Thuyết, Phần Hiếu Kính Mẹ – Hiếu Kính Cha, Trang 675)

 

Đức Phật dạy , hiếu kính Cha Mẹ ngoài việc đền đáp công ơn sâu dày mà bên cạnh đó chúng ta sẽ có một Công Đức to lớn đó là sau khi thân hoài mạng chung sẽ được sanh về thiên giới.

 

- Này các Tỷ-kheo, trong ngày thứ tám của nửa tháng, các vị Ðại thần cố vấn cho bốn Ðại vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha (Bố-tát), có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.

 

Này các Tỷ-kheo, trong ngày 14 của nửa tháng, các Hoàng tử của bốn Thiên vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, … có làm các công đức.

 

Này các Tỷ-kheo, trong ngày rằm lễ Uposatha, bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, … có làm các công đức.

 

Nếu chỉ có ít người giữa loài người, này các Tỷ-kheo, có hiếu với mẹ, … là các công đức, thời này các Tỷ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammā:

 

- “Thưa chư vị, có ít người giữa loài người có hiếu với mẹ, … có làm các công đức”.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba không hoan hỉ nói:

 

- “Thật vậy, Thiên chúng sẽ bị tổn giảm và Asura chúng (A-tu-la) sẽ được sung mãn.”

 

Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, … có làm các công đức, thời này các Tỷ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammā:

 

- “Thưa chư Vị, có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, … có làm các công đức”.

 

Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba hoan hỷ nói

 

- “Thật vậy, Thiên chúng sẽ được sung mãn, còn các Asura chúng sẽ bị tổn giảm.

 

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Ba Pháp, Phẩm Sứ Giả Của Trời, Phần Bốn Bậc Ðại Vương, Trang 255) 

 

 

Và trong một đoạn kinh khác, cũng được Đức Phật nói đến quả phúc của việc phụng dưỡng Cha Mẹ.

 

Bà-la-môn Mātaposaka nói với Thế Tôn:

 

- Thưa Tôn giả Gotama, tôi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp. Sau khi tìm món ăn thiết thực theo thường pháp, tôi nuôi dưỡng mẹ cha. Thưa Tôn giả Gotama, tôi làm như vậy; tôi có làm đúng trách nhiệm không?

 

- Này Bà-la-môn, Ông làm như vậy là làm đúng trách nhiệm. Này Bà-la-môn, ai tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp; sau khi tìm đồ ăn thiết thực theo thường pháp, lại nuôi dưỡng mẹ cha thì người ấy được nhiều công đức.

 

Người nào theo thường pháp,Nuôi dưỡng mẹ và cha,Chính do công hạnh này,Ðối với cha, với mẹ,Nhờ vậy, bậc Hiền Thánh,Trong đời này tán thán,Sau khi chết, được sanh,Hưởng an lạc, chư Thiên.

 

(Tương Ưng Bộ Kinh 1, Chương VII – Tương Ưng Bà La Môn, Phẩm Cư Sĩ, Phần Nuôi Dưỡng Mẹ, Trang 398)

 

 

Sau cùng, Đức Thế Tôn tuyên bố rằng, những điều được bậc chân tuyên bố: xuất gia, bố thí và điều thứ ba là hầu hạ Cha Mẹ là pháp của bậc chân nhân, lả pháp của bậc hiền trí.

 

- Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Thế nào là ba?

 

Bố thí, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Xuất gia, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Hầu hạ cha mẹ, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, được người Hiền trí tuyên bố, được bậc Chân nhân tuyên bố.

 

(Tăng Chi Bộ Kinh 1, Chương Ba Pháp, Phẩm Nhỏ, Phần Bổn Phận, Trang 270)

 

Vu Lan 2011

 

Tỳ kheo Trí Tịnh

Đại Lễ Tăng Y Kathina và Truyền Thống Tăng Già

Tỳ khưu Giác Đẳng
(Viết làm tài liệu thảo luận của Tuần Lễ Truyền Thống Tăng Già)

Đại lễ Tăng Y Kathina là đại lễ hằng năm duy nhất được chính Đức Phật và chư Phật quá khứ ban hành. Trong cung cách cúng dường một bộ y đặc biệt với một số luật định khiến đại lễ nầy trở thành một thắng duyên cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Để tìm hiểu về đại lễ nầy cần đi vào một số chi tiết quan trọng chứ không thể nhận định qua một vài khái niệm.

I. Vài điều cần biết tiên khởi

a. Nhập hạ (Vassà)

Thời Đức Phật tại thế, Ngài và chư Tăng có nếp sống du phương nghĩa là đi từ nơi nầy sang nơi khác để hoằng hoá. Thời tiết tại Ấn Độ từ Rằm Tháng Sáu đến Rằm Tháng Chín Âm lịch là mùa mưa (Monsoon). Trong thời gian nầy côn trùng sanh nở, cây cối đâm chồi nẩy lộc, sự đi lại khó khăn. Đức Phật và chư Tăng an cư một nơi có máy che trong suốt thời gian nầy. Đây cũng là dịp để chư tăng trau giồi pháp học, pháp hành. Thông thường thì chư Tăng chính thức nhập hạ từ Rằm Tháng Sáu đến Rằm tháng Chín gọi là Tiền An Cư (Purimikavassa). Nếu có việc chẳng đặng đừng thì nhập hạ sau đó một tháng tức từ Rằm Tháng Bảy đến Rằm tháng Mười gọi là Hậu An Cư (Pacchimikàvassà). (Phật giáo Bắc Truyền an cư từ Rằm Tháng Tư đến Rằm Tháng Bảy và sau nầy tại Việt Nam dùng chữ kiết hạ có ý nghĩa tương đối khác với luật nghi)

b. Pháp phục của chư tăng

Pháp phục của một tỳ khưu gồm tam y ca sa. Tất cả đều may theo hình chữ nhật không giống như quần áo người cư sĩ (nên có câu người xuất gia đầu tròn áo vuông). Ba y gồm có y nội (Antaravasaka – an đà hội hay hạ trước y) , y vai trái (uttarasangha – Uất đà la tăng hay thượng trước y), y kép (sanghati – tăng già lê hay trùng phục y). Vì là hình chữ nhật nên dễ tự may cắt. Màu sắc thường là màu vàng, màu nghệ, màu nâu. Tăng y tiêu biểu cho hạnh xả ly. Trong kinh cũng gọi là lá cờ của bậc Ứng Cúng. Một lần Đức Thế Tôn đi ngang triền núi của xứ Magadha, ngài gợi ý cho tôn giả Ananda may y ca sa theo hình thức những thửa ruộng biểu trưng cho phước điền vô thượng của thế gian

c. Nghi luật Tăng sự (Sanghakamma)

Chư tăng truyền thống là một đoàn thể dân chủ đại nghị. Khi có bất cứ điều gì cần giải quyết hay thực hiện với sự thông qua tăng chúng thì cần có những thể thức rõ ràng được gọi là Tăng Sự (sanghakamma).
Trong những Tăng Sự như vậy thì điều quan trọng nhất là tác bạch tăng sự (kammavaca). Đây là một lời trình đúng theo luật nghi do một vị thông hiểu giới pháp thực hiện. Thường thì chư tăng thông qua bằng sự im lặng. Tác bạch tăng sự đó phải đúng việc, đúng thể thức, đúng thời, đúng tăng hội. Các dịch giả Trung Hoa không tìm được chữ dịch thoả đáng nên dùng Phạn âm là Yết ma (Kamma). Một số chư Tăng Nam Tông Việt Nam dùng chữ tuyên ngôn nhưng từ nầy không chuẩn vì mang nghĩa khác.

II. Đại lễ Tăng y Kathina

a. Ý nghĩa của chữ Kathina

Kathina có nghĩa là bền chặt, không dễ bị vỡ vụn. Gọi như vậy vì đại lễ nầy kết cấu nhiều qui định quan trọng dẫn đến thắng duyên. Một người làm phước sự gì quá đơn giản thì tâm của người cúng dường cũng như người thọ thí thường khó làm cho sự bố thí đạt đến chỗ viên mãn nếu thiếu những yếu tố thù thắng của tâm thí, thời thí, vật thí, người thọ thí, và cung cách thí. Đại lễ Kathina bao hàm tất cả những điều đó nên gọi là bền vững, viên mãn.

b. Dâng y

Có một số điều nhất định không thể khác đi được trong việc dâng y Kathina:
- Mỗi chùa một năm chỉ tổ chức một lần bất cứ ngày nào từ Rằm tháng Chín đến Rằm tháng Mười. Sau lễ nếu có người cúng một số tiền thật lớn để tổ chức thì cũng không làm được
- Chỉ có thể cúng dường nếu có chư tỳ khưu nhập hạ tại chùa.
- Chỉ cúng dường đến đại chúng Tăng già rồi chư Tăng giao y theo nghi luật chứ không cúng trực tiếp cá nhân tỳ khưu nào. Nên không tự tay trực tiếp dâng y mà đặt y trước mặt Đại Tăng. Chư tăng chỉ nhận bằng cách im lặng chứ không bằng tay.
- Chỉ một trong ba y được dùng để cử hành Tăng sự.
- Cả hai giới xuất gia và tại gia đều có thể tổ chức lễ Tăng y Kathina
- Có thể dâng y may sẳn hay vải để may y.

c. Thọ y

Chư Tăng phải thọ y theo nghi luật được Đức Phật ban hành:
- Phải có đủ túc số từ 5 vị tỳ khưu trở lên mới có thể cử hành tăng sự thọ y Kathina
- Tiêu chuẩn giao y ưu tiên theo nhu cầu (thí dụ như y quá rách), rồi hạ lạp, rồi sự am hiểu thể thức thọ y.
- Nếu là y kathina là vải thì phải cắt, may, nhuộm, và hoàn tất tăng sự trong ngày.
- Tăng sự được thành tựu sau ba lần tác pháp yết ma với sự im lặng đồng thuận của tăng chúng
- Vị tỳ khưu thọ y phải biết xả y cũ, làm dấu và chú nguyện y mới, và hoàn tất bằng lời trình
- Những vị tỳ khưu khác cùng nhập hạ nói lời tuỳ hỉ

III. Đại lễ Tăng y và truyền thống Tăng già

a. Tăng thể là đại thể

Tăng luôn được hiểu là đại thể của tất cả những vị tỳ khưu truyền thừa giáo pháp. Ngày nào người Phật tử cúng dường nghĩ đến đại thể thì Phật Pháp còn hưng thịnh và sự cúng dường vô phân biệt nói lên tinh thần chung vượt ngoài những quan niệm cá nhân. Chiếc y Kathina cho dù trong hình thức đơn giản nhất cũng nói lên ba điều quan trọng là người cúng dường không cá nhân tuyển thí, chư tăng giao y theo cách lợi hoà đồng quân và lễ phẩm được trang trọng vì chuyên chở giá trị truyền thống.

b. Quả phước của lễ Tăng y Kathina

Người cúng dường y Kathina gieo tạo phước duyên thù thắng vì làm được Tăng thí vô phân biệt, cúng dường đúng thời, cúng dường hợp đạo. Người làm được điều nầy đời sau có duyên lành xuất gia, tác thành tăng tướng nhanh chóng, và đầy đủ phước vật. Đại lễ tăng y mang lại an lạc cho Tăng già, do vậy, là một phước hạnh thù thắng.

c. Lễ Tăng Y và ảnh hưởng xã hội

Người đầu tiên tổ chức Tăng y trong giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là đại thí chủ Visakha. Tổ chức tại chùa Kỳ viên, thành Savatthi. Ngày nay tại các quốc gia Phật giáo Nam Truyền thì đây là lễ hội lớn làm nổi bật ba ý nghĩa: hộ trì Tăng Chúng để giáo pháp trường tồn, người cư sĩ tìm thấy niềm vui đạo vị của một mùa lễ hội và ngày đại lễ nầy cũng nhắc nhở cả hai giới xuất gia và tại gia phải trân trọng tấm lòng của đàn tín.

Đại Lễ Rằm Tháng Giêng

Viết bởi Tỳ-kheo Giác Đẳng

Có tất cả là 13 hạnh đầu đà. Quyển Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích tường tận về mỗi hạnh với hiệu năng đối trị những phiền não khác nhau. Hạnh đầu đà trong đại lễ là hạnh sau cùng của mười ba hạnh. Đây là pháp tiết chế sự mê ngủ bằng cách chỉ đi, đứng, ngồi chứ không nằm. Nói cách khác đây là một đêm không ngủ tu tập cúng dường đức Phật. Thiền sư Buddhadàsa ghi lại những kinh nghiệm bản thân khi Ngài thức đêm thiền định trong rừng: “thế giới về đêm quả có nhiều điểm kỳ diệu. Hình như trong sự yên tĩnh của màn đêm có cả bao nhiêu sự sống động tiềm ẩn. Những ai theo đuổi cuộc sống tinh thần không nên bỏ qua kinh nghiệm quí báu này.” Tùy theo mỗi chùa, đêm đầu đà có thể bao gồm nhiều tiết mục tu học. Thường thì gồm có thuyết pháp, luận đạo, tụng kinh, kệ kinh, hành thiền, kinh hành, v.v.. Nói chung là những sinh hoạt tu học khó tìm thấy ở những đại lễ khác.

Người Việt có câu “phép vua thua lệ làng.” Những phong tục dân gian lắm lúc được biết nhiều hơn là những nguyên tắc chánh truyền. Lễ Thượng Nguyên Rằm Tháng Giêng là một trường hợp điển hình. Tên Phạn ngữ của đại lễ là Maghapuja có nghĩa là lễ hội ngày rằm tháng Magha – tương đương với tháng Giêng theo lịch Trung Hoa. Gọi là Thượng Nguyên là cách phân chia theo Âm Lịch cùng với Rằm tháng Bảy là Trung Nguyên và Rằm tháng Mười là Hạ Nguyên. Người Phật tử Việt Nam thường đi chùa xin dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn. Vì là ngày Rằm đầu năm nên các chùa tổ chức lễ rất trọng thể.

Đại lễ Rằm Tháng Giêng theo truyền thống Phật Giáo mang hai ý nghĩa: Thứ nhất kỷ niệm ngày đức Phật thuyết kinh Giải Thoát Giáo tại Thánh Hội Tăng Già. Thứ hai kỷ niệm đánh dấu ngày Đức Phật công bố Giáo Pháp đã được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa.

Kinh Giải Thoát Giáo – Ovadàpatimokkha- là bài kinh cô đọng về giáo pháp của chư Phật, căn bản của đời sống tu tập và tôn chỉ hoằng pháp. Mở đầu bài kinh đức Thế Tôn dạy rằng sự cúng dường đức Phật bằng cách cao quí nhất là sự hành trì Phật Pháp.

Ai hành trì chánh Pháp

Là cúng dường đức Phật

Bằng cách cao quí nhất

Trong các sự cúng dường.

Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều: không làm các ác nghiệp, huân tu hạnh lành và thanh lọc tâm ý. Câu kinh này đã trở thành lời toát yếu Phật Pháp quen thuộc với mọi người Phật tử.

Không làm các nghiệp ác

Năng tu tập hành hạnh lành

Thanh lọc tâm thạnh tịnh

Là huấn ngôn chư Phật.

Tiếp theo đức Phật nhấn mạnh khả năng kham nhẫn trong cuộc sống tu tập. Vị sa môn trên đường đạo phải học đức chịu đựng nhẫn nại. Trước hết là đối với bản thân. Đức Từ Phụ nhắc nhở về con đường giải thoát mà chư Phật truyền dạy đều đòi hỏi sự kiên tâm. Tự chế không nuôi hiềm hận, nghiêm trì giới luật, phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, sống thanh tịnh độc cư, sống với tâm hướng thượng là những pháp căn bản của người cầu đạo giải thoát.

Diệt ác bằng nhẫn nại

Là pháp môn tối thắng

Chứng giải thoát niết bàn

Là thành tựu tối thượng

Sa môn không hiềm hận

Luôn tinh nghiêm giới luật

Sống phòng hộ các căn

Tiết độ trong ẩm thực

Sống thanh tịnh độc cư

Hướng tâm cầu giải thoát.

Đi xa hơn đức Phật dạy thế nào là cái đẹp, cái được, cái nổi bật mà một người trên đường đạo nên mong mỏi. Pháp nhẫn nại là trang sức đẹp nhất; là điều kiện tất yếu cho các thiện pháp phát triển; là trang sức của người trí; là vẻ đẹp của người hiền; là điều kiện dẫn đến những thành tựu trong cuộc sống. Nhẫn nại là phương cách diệu dụng hóa giải mọi tranh chấp.

Tất cả các hạnh lành

Lớn mạnh nhờ kiên tâm

Với hiền trí trong đời

Dùng nhẫn là sức mạnh

Làm sang bằng nhẫn nại

Làm đẹp bằng nhẫn nại

Làm giàu bằng nhẫn nại

Thành công với nhẫn nại

Những tranh chấp lớn nhỏ

Hóa giải nhờ nhẫn nại

Đức Phật cũng nêu rõ tôn chỉ hoằng pháp khi Ngài dạy chư Tăng: Đời sa môn sống vì lợi ích của muôn loài. Không dụ dỗ, hăm dọa, hay dùng phỉ báng, phá hoại tha nhân. Con đường giải thoát giác ngộ là con đường của những người tự giác.

Không mê hoặc, dọa hẩm

Không gây thương tổn ai

Sa môn hoằng đạo cả

Vì lợi lạc cho đời.

Một học giả Phật giáo gọi kinh Giải Thoát Giáo là bản tuyên ngôn về tôn chỉ tu tập và hoằng pháp của Tăng lữ. Bản tuyên ngôn đó đã được Đức Phật long trọng trình bày trước một thính chúng toàn bậc thánh nhơn giải thoát. Tất cả đã im lặng mặc nhiên đón nhận.

Thánh Hội Tăng Già là một sự cố hy hữu xảy ra duy nhất một lần trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Thuở ấy, Đức Điều Ngự đang trú ở chùa Trúc Lâm tại thành Ràjagaha. Đó ngày trăng Rằm tháng Magha (tháng Giêng). Mặc dù không một lời mời nào, 1250 vị thánh Tăng tự vân tập về. Tất cả đều là bậc thánh tứ quả vô lậu giải thoát và đều xuất gia bằng lời gọi của Đức Phật: “ehi bhikkhu – thiện lai tỳ kheo”. Những bậc phước huệ vẹn toàn đó đã ngồi vây quanh dưới chân của Đấng Đại Giác trong sự im lặng tuyệt đối. Những lời giản dị nhưng thâm sâu của Phật được đón nhận bởi những tâm hồn cao khiết. Dưới ánh trăng vằng vặc sáng trong vườn trúc, tiếng nói giác ngộ được nói lên bởi con người giác ngộ cho một hội chúng giác ngộ. Quả là một cuộc gặp gỡ vô tiền khóang hậu.

Rằm Tháng Giêng cũng kỷ niệm ngày Đức Phật tuyên bố đạo tròn duyên mãn và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa. Sau 45 năm hoằng đạo, đức Phật kết thúc năm sau cùng bằng cuộc hành trình dài. Năm ấy Ngài đã 80 tuổi. Con đường từ Ràjagaha về Kusinara ghi lại nhiều sự cố quan trọng. Tại Vesalì, Đức Điều Ngự “với cái nhìn của con voi chúa” đưa mắt quanh núi đồi thanh tú của xứ Vajji lần sau cùng. Buổi trưa hôm đó tôn giả Ananda vị thị giả của đức Như Lai cảm nhận sự rung chuyển mạnh của một cơn động đất trong khi đang thiền tịnh. Tôn giả đến gặp bậc Đạo Sư và từ kim khẩu của Phật tôn giả được biết rằng Đức Phật đã quyết định sẽ viên tịch sau 3 tháng tới. Không cầm được nước mắt, người đệ tử trung kiên này đã khẩn cầu đức Phật trụ thế lâu hơn. Đức Phật ôn tồn: Hỡi Ananda, các con còn chờ đợi gì nữa ở Như Lai. Giáo pháp đã được truyền dạy đầy đủ không có gì giấu kín. Bốn chúng đệ tử đã được hướng dẫn đầy đủ trong việc tu học. Pháp và Luật đã được giảng giải tường tận. Rất dễ dàng cho hậu thế chia sẻ tâm trạng của tôn giả Ananda nhưng cũng không thể quên rằng sự hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của Đức Phật là một sự kiện thiêng liêng để kỷ niệm.

Rằm Tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Pháp Bảo – Dhamma Day. Cùng với ngày Phật Bảo (đại lễ Rằm Tháng Tư) và ngày Tăng Bảo (Lễ Kathina tháng Mười.) Bởi vì nội dung kinh Giải Thoát Giáo được xem là tôn chỉ của giáo Pháp nên đại lễ này được gọi là Ngày Pháp Bảo. Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam tại hải ngoại đã thông qua ba ngày lễ trên là những ngày truyền thống của Phật giáo và những ngày lễ chính thức khác trong năm như ngày Cha Mẹ (vu lan), Ngày Thiếu Nhi (trung thu)… Quyết định được công bố vào tháng 11 năm 1997.

Thọ Trì Hạnh Đầu Đà là cách cúng dường bằng sự tu tập. Lời xưa Phật dạy ai hành trì chánh pháp là cúng dường Như Lai bằng cách cao thượng. Nay những đệ tử cúng dường Phật bằng một đêm tu học không ngủ. Chữ đầu đà là phạn âm của từ ngữ Dhutanga có nghĩa là pháp tiêu trừ phiền não. Có tất cả là 13 hạnh đầu đà. Quyển Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) giải thích tường tận về mỗi hạnh với hiệu năng đối trị những phiền não khác nhau. Hạnh đầu đà trong đại lễ là hạnh sau cùng của mười ba hạnh. Đây là pháp tiết chế sự mê ngủ bằng cách chỉ đi, đứng, ngồi chứ không nằm. Nói cách khác đây là một đêm không ngủ tu tập cúng dường đức Phật. Thiền sư Buddhadàsa ghi lại những kinh nghiệm bản thân khi Ngài thức đêm thiền định trong rừng: “thế giới về đêm quả có nhiều điểm kỳ diệu. Hình như trong sự yên tĩnh của màn đêm có cả bao nhiêu sự sống động tiềm ẩn. Những ai theo đuổi cuộc sống tinh thần không nên bỏ qua kinh nghiệm quí báu này.” Tùy theo mỗi chùa, đêm đầu đà có thể bao gồm nhiều tiết mục tu học. Thường thì gồm có thuyết pháp, luận đạo, tụng kinh, kệ kinh, hành thiền, kinh hành, v.v.. Nói chung là những sinh hoạt tu học khó tìm thấy ở những đại lễ khác.

Cúng đèn cũng là một nghi thức đặc biệt của đại lễ. Túc Sanh Truyện cho chúng ta biết không phải chỉ có trong thời Đức Phật đến nay mới có việc cúng đèn. Từ thời xa xưa đã có cách dúng dường như vậy. Nền văn minh Ấn hà có tục thờ lửa nên xem đèn như một lễ phẩm quan trọng trong nghi thức tôn giáo. Thời xưa đèn là một nhu yếu cho các pháp hội buổi tối. Vì thế cúng đèn cũng là cúng dường Pháp Bảo. Dù làm cho sáng hay cho đẹp thì theo lý Nhân Quả người cúng đèn có phước quả sanh làm người có gương mặt sáng lạng ngoài ra nếu có nguyện lực cũng là nhân sanh trí huệ. Người Phật tử Việt nam xem hương, đăng, hoa, quả là bốn lễ phẩm cúng dường chính cho bàn thờ. Vì lễ thọ đầu đà tổ chức buổi tối nên cúng đèn mang lại không khí thiêng liêng đặt biệt. 28 ngọn đèn được thắp để cúng dường 28 vị Chánh Đẳng Chánh Giác như trong Buddhavamsa ghi chép. 108 ngọn đèn để tiêu tai bạt nghiệp từ 6 căn, 6 cảnh, 6 thức thuộc nội phần và ngoại phận trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai ((6+6+6)*2*3=108). Tục cúng cúng sao giải hạn vào lễ Thượng Nguyên cũng lấy việc cúng đèn làm nghi thức chánh. Nói chung dù theo truyền thống hay tập tục thì lễ Thượng Nguyên vẫn có hai điểm nổi bật là cúng dường ngày Pháp Bảo và cầu an cho bản thân và gia đình.

Chùa Pháp Luân, Houston, Texas, U.S.A

 

Đại Hội Thường Niên 2010

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT HẢI NGOẠI TẠI HOA KỲ
Ban Đại Diện Miền Đôn Hậu
1770 62 nd Avenue North, St. Petersburg, FL 33702
Tel. (727) 520-9209    Email: chuaphatphap@yahoo.com

Đại Hội Thường Niên 2010 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ kết thúc thành công viên mãn và ra Quyết Nghị 8 điểm về phương hướng hành động giải trừ Quốc nạn, Pháp nạn và chống nạn ngoại xâm.

Đại Hội Thường Niên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ đã kết thúc thành công viên mãn tại chùa Giác Quang, thành phố Oklahoma City, bang Oklahoma, Hoa Kỳ chiều Chủ Nhật 10.10.2010. Đại Hội Thường Niên 2010 khai mạc ngày 8.10.2009 và tiến hành trong 3 ngày 8, 9, 10.10.2010 song song với khóa tu học đặc biệt cũng tại chùa Giác Quang.

149 đại biểu gồm chư Tôn đức Tăng Ni và nam nữ Cư sĩ Phật giáo thuộc các đơn vị Giáo hội tại các Hội đồng, các Tổng vụ, các Miền, các đơn vị trên toàn quốc Hoa Kỳ, vân tập về Chùa Giác Quang trong không khí cởi mở, đã thông qua bốn khoáng đại trên các chủ đề quan yếu như “Lập trường, đường hướng của GHPGVNTN trước hiện tình quốc nạn theo lời dạy của Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang”, và khai triển “Thông điệp Bảo vệ Thăng Long nhân 1000 năm Thăng Long” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, cùng phương hướng hành động mới trước hiện tình của Việt Nam và Á châu cho mục tiêu giải trừ Quốc nạn, Pháp nạn, và đào luyện nhân sự đối ứng với nhu cầu hoằng hóa độ sinh trước tình hình mới.

Đặc biệt trong kỳ Đại hội này, Đức Phó Tăng thống Thích Hộ Giác, Chủ tịch Hội đồng Điều hành Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ, vì  lý do sức khỏe không đến tham dự được nhưng ngài đã theo đại hội qua đường dây viễn liên, và ngài đã ban Đạo từ Khai mạc trực triếp bằng điện thoại. Ngài nhấn mạnh các điều trọng yếu như sau :

“Mặc dù không có mặt để vai sát vai cùng Đại hội tiến hành Phật sự, nhưng tôi vẫn theo dõi từng phút với Đại hội, mừng vui theo từng tiếng vỗ tay thật là hoan hỉ của Đại hội. Qua những tiếng vỗ tay, tôi biết là Đại hội đang tích cực âu lo cho đạo pháp và dân tộc. Những tiếng vỗ tay báo hiệu sự thành công viên mãn của Đại hội.

 

“Tôi tin tưởng tất cả chúng ta là con của Đức Phật, đem tâm Phật làm việc Phật, thì dù khó khăn đến đâu, chướng ngại đến đâu, chúng ta cũng có thể thắng lướt, vì chúng ta đã mang trong tâm mình tinh thần bất khuất và vô úy. Đặc biệt chúng ta còn có đức nhẫn nại và niềm tin son sắc vào tiền đồ của Phật giáo.

“Chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu năm qua, dù sóng to gió lớn, dù phong ba bão táp, chúng ta đã cùng sống chết để bảo vệ nhau. Không ai rời bỏ chiếc thuyền của Giáo hội trong giai đoạn Pháp nạn và Quốc nạn hiện nay.

 

“Tôi tin tưởng các thành viên Tăng sĩ, Cư sĩ Phật giáo đem tâm trí mình mà đền đáp Đức Từ Phụ trong muôn một. Xin chư liệt vị hãy học, hiểu, duy trì và phổ biến đường lối, lập trường của Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong nước, cùng nhau sống chết mà tranh đấu. Hãy thông suốt giáo lý, tri hành Bồ tát đạo. Sự có mặt của chư liệt vị là sự có mặt của những trưởng từ thừa kế Ngài để phụng sự giáo pháp và cứu độ quần sanh.

“Ở xa, theo dõi Đại hội bằng niềm trông mong, tin tưởng, và yên tâm biết bao khi cảm nhận không khí Đại hội đang nhất tâm quy mạng cho Chánh pháp trường tồn, chúng sinh an lạc, Quốc nạn và Pháp nạn mau chóng giải trừ.

“Cầu chúc Đại hội phấn chấn, thành công”.

Tiếp theo là Đạo từ của Đức Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, được phát qua băng thu âm từ Thanh Minh Thiền viện ở Saigon:

ĐẠO TỪ
Đại Hội Thường Niên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ 2010

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tôi gửi lời chào mừng Đại hội Thường niên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ 2010. Cầu chúc chư Tôn đức Tăng Ni, cùng chư vị Cư sĩ Thiện tri thức tham gia đại hội trong tinh thần nhất tâm quy mạng cho Phật Pháp trường tồn, chúng sinh an lạc, đất nước mau thoát vòng quốc nạn và pháp nạn.

Kinh Đại Nhật có câu : “Bồ đề tâm vi nhân, đại bi vi căn bản, phương tiện vi cứu cánh”, thật đáng làm châm ngôn thực hành chính đáng cho công cuộc hoằng hóa lợi sinh của người con Phật vào thời đại nhiễu nhương, nguy biến hôm nay.

Từ chứng đắc tự tánh, tức Bồ đề tâm, để từ bồ đề tâm ấy mà thực hành nơi xã hội nhân quần. Thực hành đạo Phật nơi xã hội khủng hoảng ngày nay, cần lấy đại bi làm gốc để Bồ đề tâm ngày càng phát huy rộng khắp. Hiệu dụng lòng đại bi là độ sinh, mà độ sinh tất phải hiểu rõ tâm tính chúng sinh, ngưỡng vọng chúng sinh, nhu cầu của chúng sinh để dẫn dắc chúng sinh lên đường giác ngộ, cứu độ chúng sinh khỏi muôn nghìn nạn ách. Bởi thế mà phải phương tiện để bác bỏ mê lầm, chỉ đường giác ngộ, cho chúng sinh hiểu rõ đường lối thóat nạn.

Đạo Phật tuy có pháp môn vô lượng, nhưng pháp môn nào cũng khế cơ khế lý với đời để cứu đời. Không cứu đời, không hiệp với đời không phải là Phật Trước hoàn cảnh trong đánh ra ngoài đánh vào nhằm thực hiện chủ trương tiêu diệt Phật giáo, cẩm nang của người thực hành chánh pháp là xiển dương đạo đức về khẩu nghiệp, thân nghiệp và ý nghiệp, nghĩa là xương minh khẩu giáo, thân giáo và ý giáo. Chư vị Cư sĩ thiện tri thức hằng ngày phải tâm niệm Tứ Ân để tìm phương báo đáp : Ân Tam Bảo, Ân Quốc gia, Ân Cha mẹ, Ân Thầy bạn.

Hội đồng Lưỡng Viện vui mừng được tin Khóa Tu học Phật Pháp được tổ chức song hành với Đại hội Thường niên 2010. Cần gia tăng khắp nơi và thường kỳ những khóa học như thế. Bởi xã hội khủng hoàng ngày nay ai cũng muốn thực hành một cái gì, nhưng lắm khi thực hành không mục tiêu chính đáng nên trở thành manh động gây khổ đau thêm cho nhân loại. Phật Pháp mang lại cho người con Phật những mục tiêu chính đáng, nên người con Phật càng phải bền tâm tinh tấn học hỏi Phật Pháp.

Ngoài ra, như chư liệt vị đã biết, đất nước ta đang đứng trước nguy cơ mất nước vì sự xâm chiếm ăn tằm của Bắc phương. Đáng lo thay khi lãnh đạo đất nước ngày nay vì tư đảng ngoại lai mà đồng lõa với sự xâm lấn kia, khiến quần chúng bơ vơ, kẹt lối.

Vì vậy, tôi kêu gọi Đại hội hãy lưu tâm tới bức Thông Điệp “Bảo vệ Thăng Long nhân 1000 Năm Thăng Long” của Hội đồng Lưỡng Viện ban hành ngày 7.10.2010 để đưa thêm vào nghị trình nhằm phổ biến rộng rãi trong Cộng đồng Người Việt Hải ngoại thời gian tới.

Cầu chúc Đại hội thành công viên mãn, bồ đề tâm kiên cố, Phật sự viên thành. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 8.10.2010
Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống
kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN
Sa môn Thích Quảng Độ

Sau 3 ngày làm việc, báo cáo Phật sự, thảo bàn những đề tài nóng bỏng của quê hương và đạo pháp để cùng tìm phương giải quyết. Đại hội kết thúc trong tinh thần phấn khởi, tin tưởng và quyết tâm phát huy con đường Bồ tát đạo trong những năm tháng tới mà các công tác chính yếu được đề ra qua Quyết Nghị 8 điểm sau đây:

QUYẾT NGHỊ TÁM ÐIỂM
của Ðại Hội Thường Niên 2010
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ

Ðại hội Thường niên 2010 Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ tổ chức tại Chùa Giác Quang ở thành phố Oklahoma City, bang Oklahoma, Hoa Kỳ, qua ba ngày 8, 9, 10.10.2010, đã thể hiện tích cực lời dạy trong Đạo từ của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, cũng như qua Đạo từ Khai mạc của Đức Phó Tăng Thống Thích Hộ Giác là nhất tâm quy mạng cho Phật Pháp trường tồn, chúng sinh an lạc, đất nước mau thoát vòng quốc nạn và pháp nạn.

149 đại biểu gồm chư Tôn đức Tăng Ni và nam nữ Cư sĩ Phật giáo thuộc các đơn vị Giáo hội tại các Hội đồng, các Tổng vụ, các Miền, các đơn vị trên toàn quốc Hoa Kỳ, vân tập về phó hội trong không khí cởi mở, thâm tình và lạc quan thông qua bốn khoáng đại trên các chủ đề quan yếu như “Lập trường, đường hướng của GHPGVNTN trước hiện tình quốc nạn theo lời dạy của Đức cố Đệ tứ Tăng thống Thích Huyền Quang”, và khai triển “Thông điệp Bảo vệ Thăng Long nhân 1000 năm Thăng Long” của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, cùng phương hướng hành động mới trước hiện tình của Việt Nam và Á châu cho mục tiêu giải trừ Quốc nạn, Pháp nạn, và đào luyện nhân sự đối ứng với nhu cầu hoằng hóa độ sinh trước tình hình mới.

Ðại hội đồng thanh quyết nghị 8 điểm sau đây:

1. Đại hội hoan nghênh, hậu thuẫn và quyết tâm phổ biến rộng rãi trong Cộng đồng Người Việt Hải ngoại“Thông điệp Bảo vệ Thăng Long nhân 1000 năm Thăng Long” của Hội đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN do Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ ban hành, mà trọng tâm tuyên dương chiến dịch tẩy chay hàng hóa Trung quốc cho đến khi Bắc Kinh từ bỏ sự xâm lấn Việt Nam bằng chính sách văn hóa và những cuộc di dân, hoàn trả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, thác Bản Giốc và ải Nam Quan. Ải Nam Quan là hồn lịch sử, để mất chốn địa đầu lịch sử hồn nước sẽ tiêu vong, dân tình sẽ đọa đày, nô lệ.

Tẩy chay hàng Trung quốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của Nhà cầm quyền Cộng sản Bắc Kinh. Ngoài lý do chính trị mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trung quốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việt Nam .

2. Cấp tốc thực hiện 4 đề án Phật sự sau đây :

2.a. Đào luyện Tăng tài để cung ứng cho các sinh hoạt truyền bá chánh pháp tại các địa phương đang thiếu chư Tăng Ni Trú trì .
2.b. Phát triển cơ sở hạ tầng là các Khuôn hội địa phương trong cuộc tập họp và đoàn ngũ hóa quần chúng Phật giáo .
2.c. Tổ chức các cuộc Hội luận tại các cơ sở địa phương để thông tin đường hướng lập trường Giáo hội trong công cuộc giải trừ quốc nạn và pháp nạn song hành với việc Ra Mắt sách Một Đời Vì Đạo Vì Dân của Đức cố Tăng Thống Thích Huyền Quang
2.d. Tổ chức khóa học Tu học Phật Pháp đặc biệt song hành với Đại hội Thường niên .

3. Tổ chức Đại học Hè vào năm 2011 để đào luyện nhân sự thanh niên sinh viên cho các ban ngành sinh hoạt của Giáo hội trong cộng đồng Phật giáo cũng như cộng đồng hải ngoại. Đặc biệt trên ba lĩnh vực văn hóa Việt Nam, lịch sử Phật giáo Việt Nam và cơ quan truyền thông, vận động quốc tế.  Ban Hướng Dẫn Trung ương Gia Đình Phật tử Việt Nam tại Hoa Kỳ và Liên Đoàn Cựu Huynh trưởng Gia Đình Phật tử Việt Nam nhận lời đảm trách tổ chức và vận động học viên .

4. Lập Qũy tương tế cho chư Tăng Ni quốc nội bị bệnh hay cao tuổi, sẽ mở một chương mục riêng để thu nhận tịnh tài hiến cúng .

5. Gây qũy tài trợ Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế bằng sự đóng góp tùy hỉ của các cơ sở Giáo hội hoặc tổ chức các bữa cơm gây qũy.

6. Gây cơ sở kinh tế tài chánh để hậu thuẫn cho những hoạt động của Giáo hội .

7.Trong việc xét duyệt Quy chế của Giáo hội, Đại hội đã đồng thanh quyết định Thiết Lập Hội Đồng Giáo Phẩm trong thời gian tới .

8. Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2555 của Giáo hội sẽ được tổ chức tại Chùa Điều ngự, trụ sở Trung ương của Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN-HN tại Hoa Kỳ ngày 15.5.2011; và Đại hội Thường niên 2011 của Giáo hội sẽ được tổ chức tại chùa Phật Pháp, thành phố St Petersburg,  Florida, vào các ngày 7, 8 và 9.10.2011. Phật lịch 2554 – Làm tại Chùa Giác Quang, thành phố Oklahoma City, bang Oklahoma, Hoa Kỳ, ngày 10.10.2010

Đại hội bế mạc bằng lễ Hiệp kỵ để tưởng nhớ và tri ân chư lịch đại tổ sư, các bậc hữu công tiền bối. Đại lão Hòa thượng Thích Chánh Lạc, Phó chủ tịch Viện Hóa Đạo kiêm Phó chủ tịch Hội đồng Điều hành GHPGVNTN Hải ngoại tại Hoa Kỳ, ban Đạo từ bế mạc.

“Xin thay mặt Hòa thượng Chủ tịch Thích Hộ Giác có vài lời gửi đến chư tôn giáo phẩm, xin Cám ơn quý đại biểu, quý đơn vị đã về dự ba ngày Đại hội.”

Tiếp đấy Thượng tọa Thích Viên Lý, Tổng thư ký Giáo hội báo cáo Tổng kết thành quả sau 3 ngày Đại hội, và Đạo hữu Võ Văn Ái, Tổng Ủy viên Ngoại vụ và Phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo quốc nội tuyên đọc Quyết Nghị Tám điểm của Đại hội.

Chấm dứt Đại hội là chương Văn nghệ do các em Gia Đình Phật tử đóng góp. Đặc biệt là giọng ca tuyệt vời của ca sĩ Phương Hồng Quế và Nguyên Lê làm cho không khí văn nghệ khởi sắc và đậm đà tình tự quê hương.

Như Mẫn

Dâng Y Kathina *

Tác Giả: Thiền Sư Sayadaw U Silananda** – 11 tháng 11 năm 2001.
Dịch Giả: PT Tâm Vân – 28 tháng 10 năm 2009

Bạn sẽ dâng Y Kathina cho Tăng Đoàn trong giây lát. Như bạn có thể biết, đây là một buổi lễ hàng năm, nơi mà các cá nhân và các nhóm dâng Y Kathina đến Tăng Đoàn (Sangha). Tôi hy vọng bạn nhớ những gì đặc biệt về Y Kathina.

Trước hết, Y Kathina có thể được dâng cho Tăng Đoàn trong tu viện chỉ một lần trong năm. Điều đó có nghĩa là bạn không thể dâng Y Kathina cho Tăng Đoàn tại tu viện hai lần trong một năm.

Thứ hai, Y Kathina có thể được dâng chỉ trong một thời hạn nhất định, bắt đầu từ cuối Vassa (Mùa An Cư) cho tới ngày trăng tròn tiếp theo. Nói cách khác, Y Kathina có thể được dâng từ ngày hôm sau trăng tròn của tháng mười (Thadinkyut) cho tới ngày trăng tròn của tháng mười một (Tazaungmon). Ngay cả trong tháng này, bạn có thể dâng Y Kathina đến một tu viện chỉ một lần. Vì vậy, dâng Y Kathina cho Tăng Đoàn thực sự là một cơ hội hiếm hoi mà chỉ đến một lần trong một năm.

Thứ ba, Y Kathina được dâng cho Tăng Đoàn, và không phải cho một cá nhân. Vì vậy, bạn nên biết ý nghĩa của từ ‘Tăng Đoàn.’ Tất cả các bạn biết rằng Tăng Đoàn có nghĩa là cộng đồng của Bhikkhus hoặc các vị Tỳ Khưu. Tuy nhiên, bạn nên lưu ý rằng Tăng Đoàn theo Tạng Luật (Vinaya) khác với Tăng Đoàn theo Kinh (Sutta) và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma).

Luật Tạng có nghĩa là giới chia ra cho các tu sĩ Phật Giáo hoặc các luật lệ đặt xuống của Đức Phật cho các sư làm theo. Trong Luật tạng, Tăng Đoàn có nghĩa là một nhóm gồm có bốn vị sư. Nếu chỉ có một sư, thì được gọi là một sư cá nhân. Nếu có hai hay ba sư, họ được gọi là ‘Tập Đoàn’, nhưng không phải là ‘ Tăng Đoàn.’ Nếu có bốn hoặc nhiều vị sư hơn, có thể đến cả hàng trăm hoặc hàng ngàn vị sư, thì họ mới được gọi là Tăng Đoàn. Vì vậy, khi bạn dâng Y Kathina đến Tăng Đoàn, bạn dâng không chỉ cho một cá nhân, hoặc một nhóm, nhưng đến cả các tu sĩ trên thế giới. Do đó dâng Y Kathina rất là đặc biệt.

Có hai loại Tăng Đoàn. Khi chúng tôi nói ” Sangha saraÓam gaccha­mi – Tôi nương tợ Sangha hay tôi đến Sangha như là nơi ẩn náu của tôi,” chúng tôi có nghĩa là tất cả các môn đệ của Đức Phật đã đạt được sự giác ngộ. Nhưng khi chúng ta nói: “Tôi dâng Y này cho các Chư Tăng.” chúng tôi có nghĩa là tất cả Tăng trong thế giới – bao gồm cả những tu sĩ đã đạt được sự giác ngộ và cũng có những tu sĩ chưa giác ngộ. Hôm nay, khi bạn dâng Y Kathina, bạn sẽ dâng cho Tăng Đoàn; đó có nghĩa là tất cả các sư, tất cả các đệ tử cao quý của Đức Phật – không chỉ là những vị sư đã giác ngộ mà còn là những vị sư chưa giác ngộ.

Trong Phật Giáo Nam Tông, từ ‘Sangha’ chỉ  có nghĩa là cộng đồng các sư. Từ này không bao giờ được sử dụng cho những cư sĩ. Tôi muốn bạn hiểu điều này. Ngày nay, từ ‘Sangha’ cũng được sử dụng cho những cư sĩ. Tôi đã không nhận thức được cách sử dụng của từ ‘Sangha’ cho đến khi tôi đến đất nước này. Ở đây, họ tự gọi mình là ‘Sangha, Sangha’ vv. Một nhóm cư sĩ, những người thực hành thiền, còn được gọi là ‘Sangha’. Nhưng tôi nghĩ rằng có thể tạo ra sự nhầm lẫn trong tương lai. ‘Sangha’ nghĩa là gì? Cư sĩ hay tu sĩ? Trong Phật Giáo Nam Tông, Sangha là một danh từ kỹ thuật mà chỉ có nghĩa là cộng đồng của các sư.

Hôm nay, bạn sẽ dâng Y Kathina đến Tăng Đoản. Tăng Đoàn phải có một số phẩm chất hoặc thực hiện được những quy luật mới có thể chấp nhận Y Kathina. Trong mùa an cư  kiết hạ (Vassa), Tăng phải ở tại một tu viện trong ba tháng mưa. Trong thời kỳ đó, các tu sĩ phải ở trong tu viện và không được đi qua đêm, trừ khi họ được mời. Ngay cả khi họ được mời, họ không thể ở lại nhiều hơn bảy ngày hoặc sáu buổi sáng bên ngoài tu viện. Họ phải trở lại tu viện trong ngày. Vào cuối ba tháng mùa mưa, Tăng Đoàn thực hiện một buổi lễ gọi là ‘Lời Mời Lễ’. Lời mời có nghĩa là mời các thành viên của Sangha chỉ ra các việc làm sai phạm nếu có, và hứa sẽ sửa đổi những lỗi lầm đó. Chỉ những người ở trong một tu viện cho cả ba tháng mà không vi phạm sự phá vỡ cư trú của họ và những người thực hiện lễ lời mời mới có quyền chấp nhận Kathina. “Phá vỡ các trú” nghĩa là gì? Nếu trong thời gian ba tháng, một sư đi ra khỏi tu viện và ở bên ngoài hơn bảy ngày, Vassa của vị ấy được gọi là bị hỏng, và vị ấy không được hưởng Kathina.

Tăng mà nhận Y Kathina phải ở ba tháng trong tu viện. Họ cũng phải có thực hiện “Lễ Lời Mời.” Hãy nhớ rằng ngày nay bạn dâng Y Kathina đến Tăng Đoàn, và không dâng cho các sư riêng. Vào những lúc khác, bạn có thể dâng Y cho một cá nhân sư nếu bạn muốn hoặc bạn có thể dâng Y cho hai hoặc ba sư trong một nhóm. Nhưng lần này, bạn phải dâng cho Tăng Đoàn.

Tại sao bạn phải dâng Y Kathina cho Tăng Đoàn? Kathina là một hành động chính thức của Sangha, mà còn liên quan đến các hành động của cá nhân. Có hai hoạt động liên quan đến Kathina. Một là hành động của Sangha – đó là hành động chính thức được thực hiện bởi Tăng Đoàn – chứ không phải bởi một sư hoặc hai sư hay ba sư. Tuy nhiên, có một hoạt động mà một sư phải làm. Vì vậy, có hai hoạt động liên quan đến các hành động của Kathina. Đó là lý do tại sao bạn phải dâng Y đến Tăng Đoàn, không dâng riêng cho một sư.

Sau khi thụ lý Y Kathina bạn dâng ngày hôm nay, Tăng Đoàn sẽ chọn một sư  để thực hiện các hoạt động Kathina. Chọn một sư và đem Y lại cho vị ấy thực hiện một buổi lễ chính thức. Lúc đầu, các Y Kathina là tài sản của Sangha. Sau đó, bằng hành động chính thức của Tăng Đoàn, một sư được chọn và đưa ra bộ  Y cho vị ấy thực hiện buổi lễ Kathina. Đó là lý do tại sao bạn phải dâng Y cho Tăng Đoàn và không dâng cho các sư cá nhân.

Ngày nay, công chúng dâng sẵn Y đã may rồi. Vì vậy, Tăng Đoàn không phải làm Y. Nhưng trong suốt thời gian của Đức Phật và có thể nhiều thế kỷ sau đó, công chúng không dâng Y làm sẵn, chỉ dâng miếng vải. Sau khi Tăng Đoàn chấp nhận nó, Chư Tăng phải làm Y. Y phải làm xong trong vòng một ngày. Vì vậy, Y phải làm xong trước bình minh của ngày tiếp theo. Sau khi chấp nhận các vật dụng cần thiếc để may Y, tất cả các tu sĩ trong tu viện phải giúp đỡ một tay để biếng miếng vải thành Y. Bạn cần phải cắt và may Y và sau đó phải nhuộm màu cho Y. Nhuộm cũng không phải dễ dàng. Bạn phải tự làm thuốc nhuộm lấy vì không có tiệm bán sẳng. Các thuốc nhuộm chủ yếu được làm từ vỏ cây hoặc lõi bên trong của cây. Và khi nhuộm Y, nó sẽ không có được màu sắc như ý muốn lần đầu tiên. Vì vậy, phải nhuộm lại lần thứ hai. Khi có nắng ngoài trời, thì không có vấn đề gì. Nhưng nếu trời âm u, không nắng, đó là một vấn đề vì Y không khô để nhuộm một lần nữa mới thực hiện được buổi lễ Kathina.

Hiện nay chúng tôi rất may mắn vì mọi người dâng Y đã làm sẳng. Nếu không, chúng tôi sẽ phải làm rất cực nhọc để biến chúng thành Y. Đó là lý do tại sao, trong thời Đức Phật, công chúng không được dâng Y trong ngày. Họ đến sớm để các sư có đủ thời gian để làm Y. Khi họ mang vật liệu để làm Y, họ cũng phải mang theo lương thực cho các sư, vì ngày đó các sư có thể không thể ra ngoài đi bình bát được. Chư Tăng bận công việc tại tu viện, vì thế công chúng mang thức ăn và những thứ khác cần thiết cho các sư. Có rất nhiều hoạt động tại các tu viện vào ngày Kathina. Nhưng ngày nay người dân chỉ cần đến và dâng Y, và Tăng Đoàn chấp nhận Y khi họ thực hiện các buổi lễ Kathina. Rất thuận lợi hiện nay.

Y Kathina có thể được dâng cho Tăng Đoàn chỉ một lần trong một năm, đó là cơ hội hiếm có. Vì thế, người dâng Y Kathina sẽ được hưởng nhiều công đức. Và cũng là một cơ  hội  duy nhất cho các Chư Tăng được nhận Y Kathina có được thêm năm lợi ích khác. Nếu bạn cúng dường – bạn dâng bữa ăn hoặc dâng Y cho các sư – bạn sẽ nhận được công đức. Khi bạn dâng Y, sư lấy Y, nhưng không có gì khác. Nhưng khi dâng Y Kathina có thể dâng cho các sư năm lợi ích. Sư có thể có được năm lợi ích khi thực hiện trong Lễ Kathina. Nếu các sư không thực hiện Kathina, họ sẽ không nhận được năm lợi ích này và họ có thể thực hiện Kathina chỉ khi họ nhận được Y dâng từ công chúng.

Vì vậy, dâng Y Kathina là một cơ hội hiếm hoi cho người thường và cũng đem những lợi lộc cho các sư. Các sư sẽ nhận được năm lợi ích khác, chúng ta có thể gọi là ‘Fringe Benefits.’  Những lợi ích này các Chư Tăng sẽ được hưởng cho đến khi trăng tròn tháng Ba.

Nếu bạn có thể muốn biết năm lợi ích ích đó là gì, tôi phải giới thiệu bạn đến các cuốn sách Luật Tạng. Bạn có thể đọc sách, hoặc bạn có thể hỏi một vị sư. Tôi sẽ chỉ cho bạn một gợi ý. Tu sĩ phải giữ – bạn có biết bao nhiêu giới không? 227 giới. Bạn biết – thậm chí để giữ năm giới và để giữ cho chúng còn nguyên vẹn không phải là dễ dàng. Vì vậy, khi bạn phải giữ một trăm giới, hay hai trăm, hay 227 giới, đó là một điều rất khó khăn. Đôi khi chúng tôi mong muốn rằng chúng tôi sẽ được miễn một số giới luật. Lễ Dâng Y Kathina có thể cho chúng tôi đều mong muốn này. Vì vậy, nó có thể cho chúng tôi tự do từ bốn giới tạm thời hoặc cho đến khi trăng tròn tháng Ba. Cho đến thời điểm đó, chúng tôi được miễn trừ bốn nguyên tắc Luật Tạng.

Sau đó, có một lợi ích khác đó là có thẩm quyền trên Y dâng cho các Tăng Đoàn trong thời gian đó. Điều đó có nghĩa là khi Y được dâng cho Tăng Đoàn, Tăng Đoàn sẽ giữ Y. Khi Tăng Đoàn nhận được đủ Y để chia sẻ, để phân phối, Tăng Đoàn phải phân phối đến các sư. Khi họ phân phối, họ phải phân phối cho tất cả các sư có mặt tại đó. Không chỉ những sư  thực hiện lễ Kathina, nhưng có thể có các sư bạn từ tu viện khác hoặc nước khác và nếu họ đang ở vào thời điểm phân phối, họ cũng có quyền được chia sẻ. Nếu chúng tôi được phân phối ở đây, chúng ta phải dâng cho họ một phần. Nếu chúng tôi đã thực hiện nghi lễ Kathina, và chúng tôi có năm lợi ích, chúng tôi có thể tự giữ Y và không phải phân phát cho các tu sĩ bạn mới. Đó là một trong những thẩm quyền trên sự phân bố của Y Kathina. Vì vậy, hoàn toàn, chúng tôi nhận được năm lợi ích: tự do từ bốn Luật tạng quy định và thẩm quyền trong phân phối của Y dâng cho các Tăng.

Vì vậy, không phải là một điều tốt để dâng Y cho Tăng Đoàn sao? Vâng. Khi bạn dâng Kathina Y, bạn hầu như dâng năm lợi ích. Không có hành động khác của sự cúng dường (Dana) có thể cho Tăng Đoàn tiếp nhận được năm đặc quyền này. Đó là lý do tại sao, nó được gọi là một sự  cúng dường có một không hai. Một cúng dường mà cũng có thể cho năm lợi ích hay một đặc quyền đặc biệt cho người nhận.

Bây giờ có một lý do khác. Tại sao bạn dâng Y cho Tăng? Mặc dù nó không phải là thực sự kết nối với Kathina, nó cũng đáng chú ý. Đó là sự giảng dạy rằng dâng cho Tăng Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả phong phú hơn là dâng cho một cá nhân. Để sự cúng dường của bạn mang lại nhiều kết quả phong phú hơn, bạn thực hiện Dana đến Tăng Đoàn.

Bạn có thể đã nghe nói về người dì hay là người mẹ nuôi của Phật, bà  Maha Pajapatigotami. Bà muốn dâng Y cho Ðức Phật. Trong sách nói bà tự dệt vải và may lấy áo cà–sa.  Sau khi làm xong, bà dâng một cặp Y, có lẽ hai Y lên Ðức Phật. Khi bà dâng cho Đức Phật, bà nói: “Đây là món qùa làm bằng tay của ta.” Bà nói, “Tôi tự tách các sợi chỉ, tự dệt các tấm vải và tự  may lấy áo cà–sa. Xin ngài vui lòng chấp nhận Y này.” Nhưng Ðức Phật từ chối. Đức Phật nói: “Hảy dâng cho Tăng Đoàn. Nếu dâng cho Tăng Đoàn, ta cũng sẽ được hưởng.” Lần thứ hai, Gotami yêu cầu Đức Phật để chấp nhận và lần thứ hai Đức Phật từ chối. Lần thứ ba một lần nữa Đức Phật từ chối.

Bây giờ có Tôn Giả Ananda. Ananda không thể giữ im lặng. Vì vậy, ông đã can thiệp và sau đó nói, “Bhante, xin vui lòng chấp nhận Y bởi vì Gotami đã làm rất nhiều hữu ích cho ngài. Khi mẹ của ngài mất, lúc ấy ngài chỉ có bảy ngày. Bà  đã nuôi dưỡng ngài bằng sữa của chính mình trong khi bà giao con trai của bà cho vú nuôi. Bà đã làm được rất nhiều điều cho ngài. Vì vậy, xin vui lòng chấp nhận Y. Và ngài đã đem lại lợi ích cho Gotami bởi vì qua Pháp thoại của ngài, Gotami đã trở thành một vị Thánh – bà đã đắt quả Tu Đà Hườn (Sotapanna).” Ông năng nỉ với Ðức Phật. Và sau đó Đức Phật nói chuyện về những thứ khác. Chúng ta sẽ không hài lòng về câu chuyện này vì tới đây là nó đã kết thúc. Chúng tôi không biết Gotami đã dâng Y đến Tăng Đoàn hoặc Ðức Phật. Chúng tôi có thể nói rằng Gotami đã dâng Y đến Tăng Đoàn.

Tại sao Đức Phật nói cho Gotami dâng các Y không phải cho ngài mà cho Tăng Đoàn? Một trong những câu trả lời là Đức Phật muốn Gotami có được nhiều công đức. Nếu bà ấy dâng Y cho Ðức Phật, bà sẽ nhận một công đức. Nhưng nếu bà ấy dâng cho Tăng Đoàn, bao gồm Đức Phật, bà  sẽ được nhiều công đức hơn. Để Gotami có được nhiều công đức, Đức Phật nói: Nếu bà dâng Y cho Tăng Đoàn, tôi cũng sẽ được tôn vinh. ”

Tuyên bố này trái với chúng tôi với một vấn đề. Ðức Phật đã được bao gồm trong Tăng? Hoặc là ngài khác nhau hoặc riêng biệt? Chúng tôi có thể đặt Phật trong Sangha? Hoặc là Phật riêng biệt? Khi bạn giữ giới luật, bạn đã nói gì? Buddham saranam gacchami. Dhammam saranam gacchami, và Sangham saranam gacchami. Nếu Đức Phật đã được bao gồm trong Sangha, sẽ có chỉ có hai nơi trú ẩn cho bạn. Sẽ có hai đá quý trong kho tàng Phật Giáo. Vì vậy, Ðức Phật khác nhau hoặc tách biệt với Tăng. Điều đó không quan trọng.

Bây giờ có một câu hỏi. Tại sao Đức Phật nói cho Gotami để dâng cho Tăng? Một chút sau này sau khi giảng dạy Ananda về một số loại Dana, Đức Phật nói, “Không có tài khoản nào để nói rằng, dâng cho một cá nhân mang lại nhiều kết quả phong phú hơn là dâng cho Tăng Đoàn.” Nếu chúng ta nghiêm túc tin vào lời nói đó, thì nó có thể có nghĩa là dâng cho Tăng là tốt hơn dâng cho Ðức Phật. Bởi vì nếu chúng ta dâng cho Đức Phật, Đức Phật cũng như một cá nhân. Nhưng trong trường hợp này, bình luận mà nói, “Đức Phật là tốt nhất của những người nhận của cúng dường. Vì vậy, để dâng cho Đức Phật là lợi hơn” Nhưng sau lời tuyên bố của Đức Phật, tôi nghĩ rằng chúng tôi có thể nói rằng dâng cho Tăng cũng được lợi ích lớn.

Ở nhiều nơi khác, trong nhiều trường hợp Đức Phật đã nói rằng việc cúng dường thực hiện cho Tăng Đoàn mang lại nhiều kết quả. Bất cứ khi nào chúng ta có thể, chúng ta dâng cho Tăng Đoàn. Bởi vì khi chúng ta thực hiện dâng cho một cá nhân, chúng ta phải tham dự một số điều khác. Khi bạn trồng cây, bạn sẽ trồng cây trong đất phì nhiêu – đất tốt để các cây có thể phát triển và lớn vv. Vì vậy, đất phải được miễn trừ chổ xấu, đất phải được miễn trừ  rác rưới và đất phải được phong phú để nó có thể cho cây có  nhiều quả. Khi bạn trồng một cây ăn quả, bạn sẽ chọn đất nơi mà bạn sẽ trồng cây. Cũng vậy, khi bạn làm một Dana, bạn cần phải chọn người nhận của Dana. Người nhận có đạo đức càng nhiều, công đức bạn nhận càng được phong phú. Một cá nhân không bao giờ là chắc chắn. Bạn có thể rất hài lòng với một cá nhân, bạn có nhiều niềm tin cho cá nhân đó. Như chúng tôi nói, bạn không thể xem qua Pháp của người ấy mà xem được sự thật của người ấy là gì. Vì vậy, có thể người ấy sẽ không thực sự tinh khiết. Nhưng đối với Tăng Đoàn, bởi vì Tăng Đoàn có nghĩa là cộng đồng của Chư Tăng nên có thể có sư không có đạo đức. Nhưng chúng tôi không thể nói Tăng Đoàn không có đạo đức. Có rất nhiều thành viên của Tăng: một số có phẩm chất đạo đức, một số không có phẩm chất đạo đức. Nhưng đối với một toàn thể, không thể có một Tăng Đoàn không đạo đức. Đó là lý do tại sao, việc cúng dường thực hiện cho Tăng Đoàn mang lại nhiều kết quả phong phú hơn là việc cúng dường cho một cá nhân.

Hôm nay bạn sẽ được dâng Y Kathina đến Tăng Đoàn. Vì vậy, bạn có thể lưu tâm rằng Tăng Đoàn là tinh khiết. Tăng Đoàn có nghĩa là cộng đồng các sư bắt đầu với ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, v.v., và như vậy cho đến ngày hôm nay. Không thể có Tăng Đoàn không đạo đức, không thể có Tăng Đoàn không tinh khiết. Và như vậy việc cúng dường cho Tăng Đoàn đạo đức sẽ mang lại kết quả phong phú. Đó cũng là lý do tại sao, bạn dâng cho Tăng Đoàn. Nhưng chủ yếu chính là Y Kathina được dâng cho Tăng Đoàn, do đó, Tăng Đoàn có thể thực hiện lễ Kathina. Cùng với nó, bạn nên hiểu rằng dâng cho Tăng Đoàn mang lại nhiều kết quả phong phú hơn để dâng cho một cá nhân. Vì vậy, bạn sẽ dâng cho Tăng Đoàn với sự hiểu biết này trong tâm trí của bạn, do đó, Tăng sẽ có thể thực hiện các buổi lễ Kathina, và các tu sĩ có thể lấy năm lợi ích. Ngoài ra, sự cúng dường của bạn sẽ mang lại nhiều kết quả hơn nhiều.

Tôi nghĩ rằng bạn chưa chắc sự cúng dường cho Tăng Đoàn tốt hơn là sự cúng dường cho một cá nhân. Giả sử bạn muốn dâng cho Tăng Đoàn, và giả sử chỉ có một sư tại tu viện này. Làm thế nào bạn sẽ làm điều đó? Bạn muốn dâng cho Tăng Đoàn, nhưng chỉ có một sư, do đó, có vẻ như là không có Sangha tại tu viện này. Nhưng bạn vẫn có thể dâng cho Tăng Đoàn dù chỉ có một người. Chỉ cần trong tâm trí của bạn là bạn cúng dường cho Tăng Đoàn toàn bộ, không phải là cá nhân cụ thể. Vì vậy tuy bạn dâng cho một cá nhân, nhưng trong tâm trí của bạn, bạn dâng cho cả Tăng Đoàn. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang dâng cho cả cộng đồng của các sư và người này chỉ là một đại diện của cả cộng đồng. Bằng cách đó, thậm chí nếu bạn thực hiện dâng đến một sư, bạn có thể làm để dâng cho Tăng toàn bộ. Dana của bạn là Tăng mặc dù nó là để chỉ một cá nhân bạn dâng. Sau đó, tuy vị sư ấy chỉ là một mình nhưng vì nó được dâng cho Tăng Đoàn, vị sư này được quyền sử dụng những gì đã dâng vì sư là một thành viên của Sangha. Đó là sự quan tâm của sư và không phải là sự quan tâm của bạn. Mối quan tâm của bạn là bạn đã dâng cho Tăng, và bạn nhận được công đức của c ủa sự cúng dường này. Vì vậy, sự cúng dường của bạn hoặc sự cúng dường của bạn sẽ mang lại kết quả phong phú. Mặc dù chỉ có một sư hoặc hai, ba sư, bạn vẫn có thể dâng cho Tăng Đoàn. Luôn luôn là đều tốt hướng về Tăng Đoàn trong tâm trí khi bạn dâng một cái gì đó cho Tăng Đoàn hoặc đến các sư. Giả sử bạn dâng bữa ăn cho các sư, sau đó bạn có thể nói, “Tôi dâng các bữa ăn cho Tăng Đoàn” hay một cái gì đó như thế. Vì vậy, ngày hôm nay với sự hiểu biết này, bạn sẽ dâng Y Kathina đến Tăng Đoàn.

Với sự cúng dường này và công đức này có thể là một sự hỗ trợ mạnh mẽ cho bạn đạt được giác ngộ.

Sadhu! Sadhu! Sadhu!
Lành thay! Lành thay! Lành thay!

* Xin bấm vào đây để xem bài gốc bằng tiếng Anh
** Xin bấm vào đây để xem tiểu sử của ngài U Silananda