Văn Nghệ Gây Qũy Xây Chánh Điện Kỳ III

Kính thưa Hòa Thượng và Chư Tăng Ni Chùa Phật Pháp
Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần, Linh Mục Trương Văn Chính
Quý vị đại diện đoàn thể cộng đồng và phái đoàn từ Orlando
Quý vị đồng hương
Cùng tất cả quan khách:

             Với tư cách là một Phật tử thâm niên của Chùa Phật Pháp, tôi được hân hạnh đứng lên đây để cảm ơn sự tham gia của quý vị vào buổi trinh diễn văn nghệ gây quỹ giúp Chùa.
            Như quý vị cũng biết, thời buổi kinh tế khó khăn, việc làm ăn của người dân gặp nhiều trở ngại, phần cúng dường cho Chùa bị ảnh hưởng nhiều, trong khi đó, việc xây cất một chánh điện mới đòi hỏi số tiền lớn lao. Mặc dầu Chùa đã tìm mọi cách để có thêm tài chánh, như bán chợ chay, kêu gọi sự ủng hộ tiền tài …, nhưng không đủ để trang trải tiền xây cất, theo như Sư Trụ Trì Chùa Phật Pháp vừa mới trình bày. Giải pháp chót là tổ chức ca nhạc gây quỹ.
            Tuy nhiên, việc tổ chức văn nghệ không chỉ nhằm mục đích trên, mà cũng có lý do là đem Đạo vào Đời, thể hiện sự hòa đồng của người con Phật với mọi đồng hương, dầu niềm tin hay cách hành đạo khác nhau, nhưng cùng chung một mẫu số, là bảo tồn nền văn hóa Việt Nam.
            Chúng tôi tin tưởng rằng tại hội trường đêm nay, Ban Tổ Chức sẽ dành cho quý vị nhiều thích thú.
            Về mặt ca nhạc, quý vị sẽ thấy những khuôn mặt khả ái trong làng tân nhạc kiêm
cổ nhạc từ xa đến, quý vị sẽ ngậm ngùi nghe những bản vọng cổ trữ tình quê hương.
            Đó là về phần văn nghệ, còn một yếu tố bất ngờ khác sẽ làm cho quý vị vui thêm,
đó là xổ số. Trong các phần thưởng, có chiếc cà rá hột xoàn, đôi bông hột xoàn và nhiều
giải trúng khác. Vé số đã được bán ra, nếu chưa kịp mua, xin quý vị lanh tay lẹ chân gặp
ban tổ chức, thêm một hành động tạo phước, lại hy vọng trong tay mình sẽ có hột xoàn
chiếu long lanh.
            Còn một việc nữa, là trong chiều hướng phát huy văn hóa Việt Nam, hôm nay, Sư
Trụ Trì Chùa có nhã ý dành cho Đài Tiếng Nói VN Hải Ngoại tại Tampa, cơ hội quảng
bá chương trình phát thanh tiếng nói Việt Nam cho đồng hương, đặc biệt cho quý vị cao
niên. Tại cửa vào hội trường, có dành một bàn riêng cho đại diện của Đài: nữ sĩ Xuân
Dân, bạn Trần Công Thức và hoạ sĩ Vũ Quang Minh sẽ nói rõ chi tiết và trả lời thắc mắc
của quý vị.
            Sau cùng, kính chúc quý đồng hương một đêm vui tươi, thoải mái.

            Xin cám ơn tất cả quý vị.
October 29, 2011
                                                                                                                                                                               

 

Ngày Ấy Đã Đến…Steve Jobs

Tuy biết “Ngày ấy đã đến..” khi ông Steve Jobs loan báo từ nhiệm CEO Apple,ai cũng đoán bệnh tình ông đã trở nặng.
Mấy hôm nay, lại thấy hình ông lưu truyền trên internet, gầy gò ốm yếu đến tội nghiệp!
Nhìn hình ông, lại chạnh nhớ đến mấy người bạn thân trong vòng mấy năm đã qua đời vì ung thư.
Người mất vì ung thư thường kiệt lực, bị vắt hết sức, như ngọn đèn cạn dầu rồi mới tắt.
Ông Steve Jobs sinh 1955,còn quá trẻ so với tuổi thọ trung bình tại Mỹ.
Vẫn biết định luật Sinh Tử bất biến,nhưng với 1 nhân vật đặc biệt cả vài tỷ người mới có Một, ắt hẳn ai cũng thương cảm !
Mời đọc “Ngày ấy đã đến rồi…”, ngòi viết Giao Chỉ chia sẻ tâm tình của ông khá đặc biệt & chân thành.
Trân trọng cám ơn tác giả & Cùng mời đọc.

 


Steve Jobs được bạn dìu đi và hình ảnh kinh đô Apple

 Ngày ấy đã đến rồi…
Giao Chỉ – San Jose
…Nhưng quả táo còn cắn dở dang.

 Với quả táo cắn dở dang, không hề liên quan gì đến khoa học, chẳng ăn nhằm gì đến điện toán, cha đẻ của nó, anh chàng học hành cũng dở dang đã làm thay đổi thế giới chúng ta đang sống.
Chúng tôi có đứa cháu vợ sinh quán Rạch Giá lưu lạc bên Toronto, xứ Canada mới qua chơi Bay Area.
Toàn thể 9 quận với hơn 200 thành phố quanh vịnh Cựu Kim Sơn, cháu chỉ nhớ có San Francisco, San Jose và sau cùng là Cupertino.
Tại sao Cupertino? Đó là thành phố đặt bản doanh của Apple. Xem ra thế hệ mới của nhân loại ngày nay anh nào cũng biết hãng Apple.
Hiện nay cơ sở của Apple cũng đã được coi là tân kỳ nằm ở phía Tây Nam xa lộ 280. Nhưng rồi đây bản doanh mới như một phi thuyền vĩ đại hình tròn sẽ hạ cánh xuống phía Đông Bắc xa lộ 280 để trở thành tân vương quốc Apple. Từ cảm hứng của Ngũ Giác Đài, nhà tỷ phú điện tử đã lựa chọn một kiến trúc 3 tầng quay vòng tròn để làm kinh đô cho Apple. Cung điện này sẽ là nơi làm việc của 13 ngàn nhân viên với 10,000 chỗ đậu xe. Đặc điểm quan trọng nhất của Apple là tìm tòi khai phá, nên Steve đã dành 300,000 square feet làm khu vực Research.
Tuy nhiên quốc vương của Apple là Steve Jobs chỉ mới được coi các công trình qua hình ảnh. Bởi vì ngày ấy của ông đã đến rồi.
Một đời bất hạnh.
Tháng 8-2011 vừa qua giám đốc công ty Apple, ông Steve Jobs loan báo trong thư từ chức gửi cộng đồng điện toán.
Thư rằng : “Tôi đã từng nói, ngày nào không còn làm tròn bổn phận, sẽ là người đầu tiên thông báo cho các bạn biết.
Thật buồn là ngày đó đã đến.”
Trong thư ông đề cử phó giám đốc lên thay và ông tự đề nghị
mình vào chức chủ tịch hội đồng quản trị.
Trên thực tế, từ mấy tháng gần đây, vị phó giám đốc của Apple đã chính thức đảm đang mọi việc. Chức vụ mà ông Jobs làm chủ tịch hội đồng quản trị cũng chỉ là hình thức danh dự.
Cuộc đời ông đang ở những ngày tháng sau cùng vì bệnh ung thư gan đã đến lúc không còn cứu chữa được nữa.
Nhà tỷ phú danh tiếng nhất trong thế giới điện tử thực sự đã sống một cuộc đời bất hạnh và sự đau đớn sau cùng ngoài bệnh tật thì phải kể đến là cuộc đời vắn số. Mới ngoài 50, với sự nghiệp vĩ đại, bộ óc phi thưòng, tư duy xuất sắc và gia tài gần 10 tỷ mỹ kim, phải ra đi quả thực là đại bất hạnh.Tin sau cùng cho biết, ông đang chuẩn bị ra đi.

Những phát minh vĩ đại.

Steven Paul “Steve”Jobs sinh ngày 24 tháng 2-1955. Cùng với 2 người bạn từ cuối thập niên 70 đã hoàn thành dự án thương mại với phát minh máy điện toán cá nhân Apple II. Đây là một bước tiến vĩ đại của nhân loại đi từ các máy điện toán khổng lồ IBM dùng trong quốc phòng và kỹ nghệ trở thành computer đem đến mỗi nhà. Qua đầu thập niên 80 với máy Macintosh và con chuột ra đời thì nhân loại đã thực sự bước vào thời đại điện tử. Thung lũng Santa Clara trong đó có San Jose và Cupertino đã trở thành thung lũng điện tử. Người Việt tỵ nạn không những đến từ Việt Nam, từ các trại tỵ nạn qua San Jose mà cả ngàn người từ các tiểu bang khác cũng dọn về Bắc Cali để đi làm điện. “Ở đây chồng tếch vợ ly, cùng làm một síp còn gì sướng hơn.”
Năm 1985 Steve bất đồng ý kiến với hội đồng quản trị công ty Apple bèn tách ra lập công ty mới. Sau đó ông trở thành người khai phá con đường dùng computer trong các phim hoạt họa và là thành viên của công ty Disney Land. Ông cũng trở lại làm giám đốc Apple đưa công ty này lên tột đỉnh vinh quang với nhiều sáng chế mỗi năm cho đến khi mới loan báo từ chức.
Về phương diện cá nhân Steve Jobs có gia đình, 4 con. Cư ngụ tại Palo Alto, California. Lương trung bình 1 triệu 1 năm nhưng ngoại bổng thì vô kể. Tài sản hiện tại trên 8 tỷ mỹ kim, nguồn gốc lai Trung Đông, mang quốc tịch Mỹ, theo đạo Phật.

 

Cậu bé Steve Jobs không phải là người thuần chủng Hoa Kỳ. Cha ruột là Abdulfattah John Jandali người Hồi giáo xứ Trung Đông Syrian. Mẹ ruột là Joanne Simpson.
Gia đình không chấp nhận cuộc hôn nhân của cha mẹ nên cô gái mang bụng bầu về sanh tại San Francsico và đem đứa con trai cho ông bà mẹ nuôi. Cha mẹ nuôi là Paul và Clara Jobs, cư ngụ tại Mt.View.
Lúc còn nhỏ cậu bé Steve học tiểu học và trung học tại Cupertino. Sau đó ghi danh học Reed College tại Portland được đúng 1 semester rồi bỏ ngang. Cuộc sống thời niên thiếu của Steve hết sức nghèo khổ. Ngủ tại sàn garage bạn bè. Đi nhặt lon bán kiếm sống và ăn cơm homeless tại chùa Hare Krihna.
Ông Jobs có lúc nói rằng nếu ông theo học đại học chăm chỉ thì không có computer Mac ra đời.
Phải chăng vì hoàn cảnh sinh ra từ gia đình một di dân bất hạnh, nuôi dưỡng bởi một gia đình nghèo túng đã dẫn dắt Steve Jobs đến con đường vinh quang hiện nay.

Con người ảnh hưởng đời sống nhân loại.
Cuối thế kỷ 20 nhân loại bước vào thời đại máy điện toán cá nhân. Mọi người bắt đầu một cuộc sống khác. Cuộc sống trong thế giới ảo. Crick một cái, cả thiên đường và địa ngục hiện ra.
Máy điện toán là nơi tập trung kiến thức của cả tỷ người góp lại từ cả thiên thu lịch sử. Màn hình hiện lên mọi tin tức thông thái và đem đến cả tin tức ngu dốt và rất nhiều ngộ nhận. Con đường điện toán đã có biết bao nhiêu đóng góp của thiên tài trong nhân loại.
Tuy nhiên trước sau cho đến bây giờ chỉ có một người nổi bật nhất đó là Steve Jobs. Một người sắp chết. Cha không nhận con. Mẹ bỏ con một mình. Bán lon coke để lấy tiền mua coca. Ăn cơm chùa trở thành theo đạo Phật. Chỉ vì lưu lạc lang thang không có tiền học nên túng quẫn phải tìm đường trở thành thiên tài điện tử.
Khi trở thành danh tiếng vang lừng thì buồng gan đã chai cứng. Khi trở thành tỷ phú thì thân thể đã tàn phai.

Tiền rừng bạc bể nhưng ăn mặc vẫn như homeless muôn đời. Được cả thế giới thương yêu nhưng người thân cận làm việc bên cạnh, ai cũng nói đây là một ông chủ xấu tính nhất địa cầu.
Học hành chẳng ra sao nhưng được các đại học danh tiếng thế giới mời tới để trao bằng tiến sĩ danh dự đủ loại. Và quan trọng hơn hết là đọc diễn văn để dạy dỗ cho các tân khoa cao học tốt nghiệp đủ mọi ngành.
Và bài diễn văn quan trọng nhất Steve mới đọc tại đại học Stanford có tựa đề. Các bạn sẽ đoán xem. Phải chăng là điện toán thế kỷ 21. Hay là ảnh hưởng của computer trong đời sống hiện nay. Không! Sai hết. Tựa của bài diễn văn lừng danh đó là :

How to live before you die. Sống ra sao trước khi chết

Trong bài đó có những câu hỏi. Anh làm gì nếu hôm nay là ngày cuối của cuộc đời. Với mầm ung thư trong người, với hoài bão mãnh liệt suốt từ năm 15 tuổi cho đến nay 56 tuổi, người thanh niên cao lênh khênh như cây xậy đó luôn luôn là người có thẩm quyền nhất để nói về đề tài sự sống và cái chết.
Với hàng ngàn khoa học gia trẻ tuổi trên thế giới Steve là thần tượng về kỹ thuật, nhưng mọi người lại kính trọng ông về tư tưởng.
Ngày nay, không phải các chính khách lãnh tụ mới thay đổi cuộc sống. Không phải các nhà văn hóa mới làm cuộc sống thay đổi. Bây giờ là thời đại của các kỹ thuật gia làm cuộc đời chúng ta khác biệt.
Pascal đã nói: “Con người cũng chỉ là cây cỏ như muôn loài. Con người khẳng khiu như cây xậy. Nhưng con người là cây xậy có tư tưởng”.
Một trong những người đó là Steve Jobs. Cây xậy có tư tưởng.
Ngày của ông đã đến, nhưng thời của Steve vẫn còn mãi mãi như kinh đô Apple dưới hình dạng phi thuyền hình tròn vĩ đại sắp hạ cánh xuống Cupertino vào những năm sắp đến.
Steve sẽ không thấy được vương quốc của ông. Nhưng nhân loại sẽ có dịp thấy thành quả của quả táo cắn dở dang và đâu đó là những lon coca thu lượm lại để cho đứa bé trở thành một con người.
Thật lạ lùng khi Trung Đông nẩy sinh ra Bin Laden làm điêu đứng Hoa Kỳ. Trung Đông cũng tặng cho Mỹ quốc đứa con lạc loài Steve Jobs.
Rồi đây những bà mẹ Tầu Đài Loan ở Cupertino la mắng thằng con. Mày bỏ học thì sau này thành thứ người gì? Đâu phải đứa nào bỏ học cũng thành Steve Jobs.

Giao Chỉ – San Jose

 

 

Nắng Ấm Cuối Đông

 

Lại thêm một mùa đông đến với thế gian trong cơn lạnh kéo dài liên tục từ đầu tháng 10 đến nay, gần Tết ta rồi mà vẫn không có dấu hiệu nào cho biết xuân sắp đến. Sau vườn cây cối trơ trụi, trống vắng dãy mản cầu rụng hết lá chỉ còn mấy cành khô run rẩy yếu ớt không có hy vọng gì sẽ tiếp tục sống qua năm mới. Giàn mướp hương mấy tháng trước hãy còn xanh um rậm rạp, hoa vàng nở rộ, trái lủng lẳng, chỉ quên vài ngày không hái là trái đã lớn bằng bắp chân chỉ để già làm giống thôi, nay chỉ còn trong kỷ niệm!! Mấy cọng thân leo ủ rủ còn vướng mắc trên giàn gỗ như chịu đựng sự ra đi của mình, sau khi đã cống hiến cho chủ nhà có những bửa canh mướp ngọt tỏa ngát hương của quê nhà xa cách vạn dậm.

Trước sân cũng không có gì khả quan hơn. Bãi cỏ xanh tươi nay đổi màu xám tro, bui hoa hồng chỉ còn ít gốc nâu sẫm, đám trà hoa nử lặng lẽ co ro thu gọn lại chờ thời. Mấy cây xồi cũng hết hùng dũng xòe cành lá rậm rạp ra che nắng cho chiếc xe nữa, bây giờ mở cửa ra nhìn từ nhà nầy một mạch đến nhà ở cuối đường đàng kia mà không bị vướng một cành lá nào.

Trong khung cảnh ảm đạm buồn hiu, mưa gió lạnh lùng, nhớ quê xưa bạn cũ (hễ cứ mưa là lại hay nhớ nhà), lại nhận được thư mời đến chùa có tổ chức chợ chay giáp Tết và có văn nghệ mừng xuân Tân Mão với các ca sĩ từ Cali qua!! Tôi cảm thấy lo lắng dùm cho mấy chị bạn quen phụ trách bếp núc nấu nướng ở chùa, trong hoàn cảnh eo hẹp kinh tế, làm ăn ế ẩm, thời tiết lạnh lẽo ướt át thế nầy, bán chợ chay ngoài sân có vẻ bấp bênh quá. Nhưng có văn nghệ với một số ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Y Phương, Thành Lễ v.v. và có cô ca sĩ Kim Anh nữa, mình đành lòng bỏ qua sao? Nhất là tiếng hát liêu trai (chí dị) của cô Thanh Thúy mấy thuở mới về đây hát? Vội vàng gọi điện thoại rũ cô bạn thân đi xem. Rất hên là hôm đó chủ nhật được nghỉ việc, buổi sáng cũng nên đáo qua chùa một chút coi có món chay nào hấp dẫn sẽ đãi cả nhà ăn bửa cơm thanh tịnh cho thế giới bớt sát sinh. Mình sẽ hát bài xin trời thôi mưa để hôm đó mới có hy vọng đi chợ chay được. Thật không trái với lòng mong ước, trời thương nên sáng chủ nhật 23 tháng Giêng năm 2011 (còn 10 ngày nữa là Tết ta), trời bổng dưng tạnh ráo, lại còn nắng lên nữa, những tia nắng ấm làm sao.

Hai chúng tôi đến chùa gần 10 giờ sáng. Đã có nhiều đồng hương thấp thoáng chụp hình nơi vườn Tứ Động Tâm, có hồ nước, có hòn non bộ dưới bóng Phật đài, vài cây liểu rũ bên bãi cỏ xanh và đường đi lát gạch làm khung cảnh chùa dịu lại yên lặng tĩnh tâm, cách ngăn với cái động ở ngoài đường có xe cộ qua lại. Bên trong sân là dãy lều chưng dọn các quầy bán thực phẩm, chúng tôi đi dạo một vòng để thám thính trước, nào là: bánh tiêu, bánh bò, xôi chè, chả giò, mì xào, cơm chiên, phở, hủ tiếu, mì, bún bò Huế…

Món đầu tiên được hai chúng tôi chiếu cố là bún bò chay (Tạm dịch là bún bỏ chạy: ăn xong chạy luôn khỏi trả tiền!! chúng tôi hay nói đùa vậy thôi). Trời lạnh đang đói bụng chưa ăn sáng thì không có gì tuyệt bằng thưởng thức ngay một tô bún bò nóng hổi, thơm ngon, tinh khiết, nhìn rổ rau đã thấy mê, màu sắc trộn lẫn giữa bắp cải trắng và tím bào mỏng, giá trắng nõn, húng quế xanh, hành ngò xanh, mấy lát ớt đỏ. Vừa ăn vừa thầm cám ơn tất cả quý vị các chị các bác ở sau bếp đã đóng góp quá nhiều công sức để có buổi chợ chay nầy, một phần để gây thêm tài chánh cho chùa, nhưng phần lớn là tinh thần phục vụ thiện nguyện, thiện tâm vì giá cả đều leo thang mà sản phẩm của chợ chay vẫn như năm ngoái không tăng!! Nhờ vậy chúng tôi có thể mua về nhà buổi trưa đở công nấu nướng – nghỉ ngơi một lát để 5 giờ chiều lại “tái xuất giang hồ” đi coi văn nghệ.

Mục nầy cũng có vẽ hấp dẫn, nghe nói vé đã bán hết. Thật đáng mừng cho ban tổ chức. vì hôm nay cũng có ca nhạc đón xuân tưng bừng rầm rộ ở các thành phố lân cận, với số đồng hương ở St.Petersburg nhỏ bé nầy, việc quảng cáo giới thiệu bán vé ca nhạc được ủng hộ hết là cả công trình kiên nhẫn và ngoại giao khéo của cô Kim Anh cũng như của nhiều bạn bè và các nhà mạnh thường quân giúp đỡ, ngoài ra cũng cho thấy tấm lòng yêu văn nghệ và giúp chùa của đồng hương mình, nếu eo hẹp quá thì ráng nhịn thứ khác để tiền mua vé coi ca nhạc cho đời thêm hương vị!!

Cô bạn và tôi đến hội trường Performing Arts Center khoảng 6 giờ tối, vẫn còn nắng một ít cuối mùa đông, se se lạnh vừa đủ để quan khách diện áo ấm, khăn quàng, mang ủng (giống như ở bên Tây!!). Gặp một số bạn bè quen thân hỏi chuyện năm cũ, chờ ngoài cửa. Thính phòng nhỏ, gọn gàng, ấm cúng, âm thanh vừa phải, không quá lớn làm điếc tai kẻ xế chiều như chúng tôi. Cũng như những lần văn nghệ trước, các thủ tục chào cờ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Phật Giáo, khai mạc với lời mở đầu của Đại Đức Trụ Trì Chùa Phật Pháp và sự dẫn dắt chương trình của anh Peter Võ, và Cô Liên Nhu để buổi diễn thêm phần liên tục, hào hứng. Tôi thấy chính ở những nơi nhỏ, xa xôi, sân khấu đơn sơ, ánh sáng không cầu kỳ tân tiến hiện đại, hội trường chỉ chừng 600 – 700 chỗ ngồi, lại là nơi tỏ rõ tấm lòng gắn bó giữa ca nhạc sĩ với khán giả nhiều nhất, sâu đậm nhất.

Chúng tôi chào đón đầy nồng nhiệt, lắng nghe, vỗ tay hát theo, những bài hát muôn thuở của mùa xuân đất nước Việt Nam trong những ngày chưa lưu vong xa xứ. Các ca sĩ cũng rất bình dân, vui vẻ thân mật cúi xuống vừa hát vừa nhận từng cành hoa hồng khán giả tặng. Hoa hồng nầy được gói riêng từng cái một trong giấy kiếng. Được biết để giữ an toàn cho người tặng và người nhận

khỏi bị đau tay, người bán là cô Tammy đã cắt gai 300 cành hoa, và chính hai tay cô đã sưng đỏ, trầy da và rướm máu. Trong mỗi cành hồng mà ca sĩ nhận từ lòng ái mộ của khán giả có chứa trong đó một tình thương âm thầm dịu dàng vô cùng của người bán.

Buổi diễn rất sôi động vui nhộn với các ca sĩ trẻ Quang Thành, Philip Huy, Nguyệt Ánh, Y Phuơng …Đặc biệt sự hiện diện của cô Thanh Thúy được Bác Hưởng lên giới thiệu. Bác là một trong những vị đạo hửu đầu tiên gắn bó với Chùa Phật Pháp từ lúc mới thành lập cho đến nay. Bác còn là nhà văn niên trưởng “Người lính gìa chỉ còn ngọn bút”, Bác rất khiêm nhường vì Bác là “lính gìa cao cấp” trong quân đội VNCH của chúng ta, ngoài ngọn bút Bác còn nhiều đức tính cởi mở, lạc quan, hay làm việc thiện nguyện. Bác Hưởng và Phu nhân là đôi “uyên uơng” rất được nhiều Phật tử trong Chùa mến thương.  Bàc Hưởng giới thiệu vài nét về quá trình thành lập Chùa đến nay cần tu bổ lại Chánh điện đã quá cũ, sự có mặt của Cô Thanh Thúy là một trong những đóng góp qúy gía này.

Tiếng hát của Thanh Thúy đã đưa chúng tôi về lại không khí của Sàigòn yêu dấu thời vàng son, chỉ còn trong kỷ niệm. cô đem đến cho chúng tôi một tình cảm ấm áp của người Việt tha hương qua nhiều mất mác vẫn còn có nhau. Xin cám ơn cô và tất cả các ca nhạc sĩ, cầu chúc tất cả quý vị được vui mạnh để đem văn nghệ đến cho đồng hương, còn hát được thì cứ hát, chúng tôi còn nghe được vẫn cứ nghe.

Tiếp theo là ca nhạc sĩ Nguyễn Đức Đạt, với bạn diễn đa tài Thành Lễ đem lại một sự sinh động cho khán giả. Chúng tôi muốn nói ca nhạc sĩ Nguyễn Đức Đạt bị khiếm thị. Khán giả vô cùng xúc động trước hình ảnh Nguyễn Đức Đạt  với cây đàn guitar gỗ trong đôi kính sậm màu, từ trong bóng tối miên viễn, đã vươn cao đến vùng ánh sáng rực rỡ của âm thanh. Chỉ một cây đàn guitar mà anh đã thể hiện được đủ loại tiếng động, tuyệt vời nhất ở bài hòn vọng phu,bàn tay điêu luyện tạo nên những âm thanh như: tiếng trống thúc quân, tiếng ngựa hí, vó ngựa lúc dồn dập, lúc nhẹ nhàng, tiếng nhạc ngựa reo, tiếng chân bước rầm rập hùng hồn của đoàn quân đi ra biên ải chống quân thù.

Phải nói là chúng tôi đã đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác vì Nguyễn Đức Đạt còn đàn cổ nhạc và thổi sáo nữa, thật quá nhiều tài năng. Chúng tôi vô cùng khâm phục anh, ngưỡng mộ những thành quả mà chắc chắn anh đã cố gắng rèn luyện từng ngày, anh trân quí cuộc sống, yêu người, yêu đời, với trái tim chân thành nên anh đã thể hiện được các tác phẩm  nghệ thuật âm nhạc quá hay như vậy. Với giọng hát cao vững, tự tin, dứt khoát đã đưa người nghệ sĩ này tài hoa khiếm thị đến với khan giả, tôi có cảm giác anh “nhìn thấy” chúng ta, qua những tràng pháo tay rất lâu rất lớn thêm vào những tiếng huýt sáo ca ngợi.

Tiếng hát, tiếng đàn của anh đã làm thức tỉnh những người bình thường như chúng tôi, đã nhận quá nhiều ơn đức của Trời Phật có đầy đủ ngũ quan, sức khỏe bình thường không kém khuyết, vậy mà không có đủ nghị lực kiên trì để làm một việc gì gọi là “cho có danh gì với núi sông” cho xã hội, tối ngày cứ than vãn “ở Mỹ sao buồn quá, hết đi cày lại bếp núc, vườn tược, xong rồi lại đi cày..”

Buổi văn nghệ chấm dứt trong sự hoan hỉ và luyến tiếc của khán gỉa. Chúng tôi ra về trong tâm trạng hân hoan chờ đón Tết Tân Mão 2011, lại có một chút bâng khuâng tự nhũ, mình nên noi gương anh ca nhạc sĩ trẻ Nguyễn Đức Đạt, chuyển hướng suy nghỉ lạc quan hơn, đừng than thở buồn phiền, chỉ cần làm cho người chung quanh nở được một nụ cười là đời cũng bớt khổ rồi. Như ngày hôm nay thật hiếm hoi: có nắng ấm, có bạn bè đồng hương đã làm giảm đi cái lạnh cuối đông. thoang thoảng trong gió đêm có mùi thơm của hoa lài hình như tiết xuân ấm áp đang dần dần tới.

                                                                                                                                                                  Huệ Quang đầu xuân Tân Mão 2/2011

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tri Ân Ngài Tăng Thống

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,
Kính thưa Hòa Thượng Tăng Thống
Kính thưa Chư Đại Đức Tăng Ni,

Kính thưa quý vị quan khách, quý vị Phật tử,
          Thật là một vinh hạnh cho con được phép đứng lên đây, trong dịp lễ Vu Lan, và nhơn danh Phật tử Chùa Phật Pháp, để bày tỏ sự thương mến đối với Hòa Thượng Tăng Thống sau gần 30 năm vô lượng công đức Ngài dành cho Chùa chúng con.

          Hồi tưởng lại mới năm nào, 27 năm về trước, lúc đó Sư Pháp Tông trụ trì, Chùa Phật Pháp chỉ là một căn nhà nhỏ hẹp trong khu ao tù nước động vùng Gandy, chúng con đã thấy bóng dáng Ngài Tăng Thống và lần nào, Phật tử chúng con đều lên tinh thần sau khi nghe Ngài thuyết pháp.

          Sau khi Sư Pháp Tông ra đi, Chùa Phật Pháp thiếu người lãnh đạo, thể theo đề nghị của Hòa Thượng Huyền Việt, Ngài bổ nhiệm Thượng Tọa Giác Chánh đến tiếp tục hoằng dương Đạo pháp. Và sau đó, mặc dầu ở Texas, đa đoan với công việc của Giáo Hội, lúc nào Ngài cũng dành một phần trái tim của Ngài cho CPP, bằng chứng là trong những ngày lễ hội, Hòa Thượng đều có mặt tại vùng Tampa Bay này.

          Khi Thượng Tọa Giác Chánh viên tịch, Chùa như gặp cơn giông bão, nào chánh quyền đe dọa đóng cửa vì không đủ tiêu chuẩn, mặt khác, muốn mua một nơi để làm chùa mới, nhưng không có tiền, do đó, trong điếu văn đọc trước linh cửu Thượng Tọa Giác Chánh, Hòa Thượng Tăng Thống có nói, nguyên văn như sau: “Tâm nguyện của Thượng Tọa Giác Chánh là muốn tạo một cơ sở khác xứng đáng hơn để làm lễ chiêm bái cúng dường, cho thập phương bá tánh có chỗ để tạo phước duyên và tâm nguyện đó đã được Giáo Hội nhứt định sẽ hoàn thành” (hết lời dẫn).

          Nhờ quyết tâm trên của Hòa Thượng Tăng Thống, với sự hỗ trợ tài chánh của Giáo Hội, Phật tử mới có được ngôi chùa khang trang như hiện nay.

          Ngày chủ nhựt 4-4-04, chư Tăng cùng Phật tử hân hoan khánh thành cơ sở mới còn vương mùi mốc meo của ngôi nhà thờ bỏ trống từ lâu. Trong số Chư Tăng ngồi trên chánh điện, có Hòa Thượng Tăng Thống, chứng tỏ Ngài luôn luôn lưu tâm đến Phật tử Chùa để cùng chia xẻ niềm vui, nỗi nhọc nhằn.

          Chúng con không quên buổi tu học trong dịp lễ bát quan trai giới ngày 4 tháng 12, 2004 với hơn 40 học viên tham dự.

          Mặc dầu đêm hôm và không được khỏe, Hòa Thượng Tăng Thống vẫn đến ngồi trên chánh điện, không ngờ Ngài đã liên tiếp trong gần hai tiếng đồng hồ, dẫn dắt lớp tu học về sáu Pháp Hòa Đồng tạo hài hòa trong mọi tập thể. Sau khi tan lớp, học viên vẫn còn văng vẳng nghe lời nói của Ngài: Thân Hòa, Khẫu Hòa, Ý Hòa, Giới Hòa, Kiến Hòa, Lợi Hòa.

          Riêng ngày hôm nay, như tất cả Phật tử đều biết, Ngài đang trong thời kỳ chữa bịnh, sức khỏe yếu kém với tuổi thọ trên bát tuần, thế mà Ngài không ngại đường xa để từ Texas đến tham dự lễ với chúng ta, một nghĩa cử vô cùng thắm thiết, giống như hiền mẫu lúc nào cũng chăm lo cho đàn con mình.

          Nhờ đó, Phật tử chúng con rất hân hoan có dịp bày tỏ lòng thương mến và biết ơn Ngài. Nguyện cầu bóng mát Từ Bi luôn luôn che chở Ngài trong mọi hoàn cảnh.

          Xin mời quý vị Phật tử cùng với tôi dâng lên vị Sư Phụ, người Cha tinh thần của chúng ta lời chúc lành Báo Hiếu Phụ Mẫu như sau:  (xin quývị ngồi tại chỗ và đọc theo tôi)

Ngưởng mong ơn trên Tam Bảo / từ bi gia hộ,

Ngưởng mong mười phương chư Phật /từ bi gia hộ,

Ngưởng mong Đức Đại Từ Đại Bi / Ta Bà Giáo Chủ / Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật / từ bi gia hộ

                   Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

                   Pt. Chánh Tâm 21/8/2011

Chử Hiếu Trong Ca Dao Tục Ngữ

Hằng năm, cứ vào mùa mưa là chúng ta bắt đầu cho một mùa Vu Lan báo hiếu. Tuy đây không phải là một lễ nghi truyền thống tôn giáo mà chỉ là một hành động, một việc làm để gợi nhớ nơi những đứa con về công sanh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Đó cũng là một truyền thống của dân tộc Việt Nam ta, truyền thống về tinh thần hiếu thảo của người con giống tiên rồng.

Vu Lan, hai tiếng đã trở nên quá quen thuộc không chỉ đối với hàng Phật tử mà còn quá gần gũi đối với hầu hết những người dân Việt chúng ta. Trên thế giới, các nước phương Tây có một ngày dành riêng cho mẹ (ngày chủ nhật của tuần thứ hai trong tháng 5) nên gọi là Mother’s Day; còn đối với cha cũng có một ngày riêng (ngày chủ nhật của tuần thứ 3 trong tháng 6) nên gọi là Father’s Day. Còn ở Việt Nam chúng ta thì một ngày để tưởng nhớ đến công ơn cha mẹ chính là ngày Vu Lan Báo Hiếu (rằm tháng 7 âm lịch).

Vu Lan, nếu nói cho đủ chữ, đủ nghĩa thì phải gọi là Vu Lan Bồn, theo tiếng Pāli thì được phiên âm từ chữ Ullumpana, xuất phát từ động từ Ullumpati, có nghĩa là giúp đỡ, cứu vớt; còn tiếng hán có nghĩa là Đảo Huyền; tức là lễ cứu vớt những vong nhân đang bị đọa xứ khổ cảnh.

Lễ Vu-lan là dựa theo tích chuyện trong kinh Vu-lan-bồn (Ullambana Sutra, Đại Chánh Tạng, tập 16), trong đó, Đức Phật dạy Trưởng lão Mục-kiền-liên cúng dường thức ăn đến chư Tăng trong ngày Tự tứ và hồi hướng phước báu đến mẹ là bà Thanh-đề để giúp bà thoát khỏi khổ cảnh của kiếp ngạ quỷ.

Trong kinh điển nguyên thủy, không thấy đề cập đến sự tích nêu trên. Tuy nhiên, trong quyển Ngạ quỷ sự thuộc Tiểu Bộ có ghi lại một câu chuyện tương tự. Đó là chuyện ngạ quỷ mẹ của Ngài Xá-lợi-phất (Chú giải Ngạ quỷ sự, Phẩm Ubbari, Chuyện số 2, Tỳ khưu Thiện Minh dịch). Tóm tắt như sau:

Một ngày nọ, các ngài Trưởng lão Sāriputta, Trưởng lão Mahāmoggallāna, Trưởng lão Anuruddha ngụ tại một khu rừng hoang gần thành Vương Xá. Một nữ ngạ quỷ với thân hình gầy ốm, hình tướng gớm ghiết, đến gặp các ngài và cho biết trong tiền kiếp, ngạ quỷ từng là mẹ của Ngài Xá-lợi-phất. Do lòng keo kiết, bủn xỉn, bà đã đối xử tàn tệ với các vị tu sĩ, và lại sinh ác tâm chưởi rủa mắng nhiếc các vị ấy, nên bà phải lảnh quả báo ác, sinh làm ngạ quỷ trong kiếp này. Bà xin Trưởng lão Xá-lợi-phất tổ chức bố thí cúng dường, rồi hồi hướng phước đến cho bà để được thoát khỏi cảnh ngạ quỷ khổ sở.

Sáng hôm sau, nhân khi đi khất thực trong thành Vương Xá, các ngài đến gặp vua Bình-sa, và Ngài Mục-kiền-liên thuật lại câu chuyện ấy cho vua nghe. Nhà vua hoan hỷ phát tâm trong sạch hứa sẽ giúp Ngài Xá-lợi-phất. Vua truyền lệnh cho các quan dựng bốn tịnh thất trong khu rừng ngoại thành, và sửa soạn vật thực, đồ ăn, thức uống và y phục. Sau đó, nhà vua chuyển toàn bộ những thứ ấy đến Ngài Xá-lợi-phất. Nhân danh mẹ, Ngài Xá-lợi-phất bố thí cúng dường đến Đức Phật và Tăng đoàn, rồi hồi hướng công đức phước báu đến cho bà. Nhờ đó, bà được tái sinh vào cõi Trời Phạm Thiên.

Mặc dù vài chi tiết trong câu chuyện này không giống như chuyện ghi trong kinh Vu-lan-bồn, việc cúng dường đến chư Tăng, rồi hồi hướng phước báu đến cha mẹ đã qua đời, có một ý nghĩa rất rõ ràng, tương hợp trong cả hai truyền thống chính của Phật giáo.

Những năm gần đây, lễ Vu Lan dường như trở nên phổ biến, phát triển rộng rãi trong hàng Phật tử với nhiều việc làm thiết thực mà chúng ta có thể thấy rõ nhất là việc cúng dường trai đàn, đặt bát cúng dường đến chư Tăng…

Những việc làm đó, phải chăng đã đủ để chúng ta đền đáp công ơn sanh thành? Nếu nói cho cùng, những việc làm đó, so với công lao của cha mẹ cũng giống như là so sánh một hạt mưa với những trận mưa ngâu của tháng 7 vậy. Làm sao mà so sánh được. Ân sanh thành, giáo dưỡng của cha mẹ đối với chúng ta quá to lớn, quá bao la, quá vĩ đại thì những việc làm đó làm sao mà đền đáp được.

Đã là con người, được sinh ra trong thế gian, được đi-đứng-nằm-ngồi thì không ai là không có cha mẹ, ai cũng được cha mẹ sanh ra và lớn lên nhờ cha mẹ, dẫu rằng ai đó là một đứa con ngoài ý muốn, hoặc sanh ra đã không biết mặt cha mẹ đi chăng nữa thì thịt xương này, hơi thở này, hình hài này vẫn là của cha mẹ tạo ra cho chúng ta. Chín tháng cưu mang, bao năm bồng bế, bao năm cho bú mớm, rồi lớn lên phải cho ăn học, phải lo cơm áo, gạo tiền cho con… Bấy nhiêu thôi cũng đủ để chúng ta tri ân đối với song thân, người đã tạo ra cho ta hình hài này để hiện diện trên thế gian này.

Ân đức của cha mẹ được ca dao ví như sông núi, như bầu trời bao la, như suối nguồn vô tận. Có biết bao lời ca tiếng hát để ca ngợi tình thương con của cha mẹ dành cho con, rồi ca dao tục ngữ…

Ngay từ lúc nhỏ, thậm chí từ lúc chưa được ngồi trên ghế nhà trường, ông bà, cha mẹ đã dạy cho thuộc lòng câu ca dao :

“Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu, mới là đạo con”.

Quả thật, đúng như thế, công ơn cha mẹ quá cao dày thì làm sao có thể so sánh được. Chúng ta chỉ có thể hình dung được sự cao lớn của núi Thái và sự mênh mông, vô tận của nước trong nguồn để ví von về ân đức cao dày của cha mẹ đối với con cái.

“Công cha nghĩa mẹ cao vời,

Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta.

Nên người con phải xót xa,

Đáp đền nghĩa nặng như là trời cao.

Đội ơn chín chữ cù lao,

Sanh thành kể mấy non cao cho vừa”.

Chín chữ cù lao, đó là chín điều khó nhọc mà cha mẹ phải mang nặng khi sanh con ra và nuôi con khôn lớn.

1.Sinh: Sanh đẻ.

2.Cúc: Nâng đỡ.

3.Dục: Dạy dỗ.

4.Phủ: Vuốt ve triều mến.

5.Xúc: Cho bú sữa.

6.Trưởng: Nuôi cho khôn lớn.

7.Cố: Trông nom.

8.Phục: Ôm ấp.

9.Phúc: Bảo vệ.

“Công cha đức mẹ cao dày,

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Nuôi con khó nhọc đến giờ,

Trưởng thành con phải biết thờ song thân”.

“Ngó lên trời thấy cặp cu đang đá,

Ngó ra ngoài biển, thấy cặp cá đang đua.

Đi về lập miếu thờ vua,

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha”.

Khi sanh con ra, cha mẹ lo cho con từ miếng cơm đến manh áo để không thua sút bạn bè, bởi thế khi cha mẹ đã lớn, người con phải biết phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc cha mẹ.

“Ai về tôi gởi buồng cau,

Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

Ai về tôi gởi đôi giày,

Phòng khi mưa gió để thầy mẹ đi”.

Thậm chí, có những người con gái, vì lòng hiếu thuận cha mẹ, dám hy sinh đời mình để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi đã xế chiều như là tấm lòng đền đáp của người con hiếu thảo.

“Ơn hoài thai, to như bể!

Công dưỡng dục, lớn tựa sông!

Em nguyện ở vậy không chồng,

Lo nuôi cha mẹ, hết lòng làm con”.

Mình nuôi cha mẹ không phải vì cha mẹ đã nuôi mình, giờ mình phải nuôi lại như là một món hàng trao gửi qua lại. Tinh thần hiếu thảo không nằm ở đó. Mình phụng dưỡng cha mẹ vì cha mẹ là bậc ân nhân của mình, nhờ có cha mẹ nên mình mới có được hình hài như bây giờ, mình được hiện hữu trên cõi đời này cũng nhờ có cha mẹ, vì không ai sinh ra mà không có cha mẹ sanh thanh dưỡng dục cả. Vả lại, quy luật nhân quả khắc nghiệt sẽ không tha thứ cho những kẻ vô tâm làm trái với luân thường đạo lý, không biết tôn kính cha mẹ.

“Nếu mình hiếu với mẹ cha,

Chắc con cũng hiếu với ta khác gì?

Nếu mình ăn ở vô nghì,

Đừng mong con hiếu làm gì uổng công?”.

“Hiếu thuận sinh ra con hiếu thuận,

Ngỗ nghịch nào con có khác chi!

Xem thử trước thềm mưa xối nước,

Giọt sau, giọt trước chẳng sai gì”.

Không phải tất cả những người con đều là những người con hiếu thảo. Bàn tay thì có ngón ngắn, ngón dài. Lòng người cũng thế, làm sao biết được. Có những đứa con, chúng vô tâm đâu biết quan tâm đến cha mẹ chúng như thế nào, chúng chỉ biết quanh quẩn với những đồng tiền chúng làm ra rồi thỏa sức mà ăn xài và tiêu phí. Chỉ khi nào chúng trở thành những người cha, người mẹ thì mới thấu hiểu được câu ân tình, chữ cù lao mà cha mẹ dành cho chúng từ khi chúng chưa biết gì.

“Ở đời ai cũng có lần,

Làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành.

Người xưa khó nhọc nuôi mình,

Khác gì mình đã hết tình nuôi con”.

“Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ”.

Tình mẹ dạt dào vô bờ bến, lòng mẹ thương con cũng như thế. Bởi thế, kho tàng ca dao – tục ngữ có rất nhiều câu để đề cao tình mẹ vô bến bờ.

“Ai rằng công mẹ như non,

Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn”.

“Lòng mẹ như bát nước đầy,

Mai này khôn lớn, ơn này tính sao “.

“Nhớ ơn chín chữ cù lao,

Ba năm bú mớm biết bao thân tình”.

“Con ho lòng mẹ tan tành,

Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

“Nuôi con chẳng quản chi thân,

Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn”.

“Mẹ ngoảnh đi, con dại,

Mẹ ngoảnh lại, con khôn”.

“Mẹ giàu con có, mẹ khó con không”.

“Mẹ già như chuối ba hương,

Như xôi nếp một, như đường mía lau” .

“Bồng cho con bú một hồi,

Mẹ đã hết sữa, con vòi con la”.

“Nuôi con buôn tảo bán tần,

Chỉ mong con lớn nên thân với đời.

Những khi trái nắng trở trời,

Con đau là mẹ đứng ngồi không yên.

Trọn đời vất vả triền miên,

Chăm lo bát gạo đồng tiền nuôi con”.

Cha tuy không trực tiếp sanh ra ta, nhưng nếu không có cha thì mình cũng không thể nào có trên thế gian này để nếm trải đủ thứ mật ngọt, đắng cay của cuộc đời. Tuy con cái không gần gũi cha như mẹ, và người cha cũng ít bộc lộ tình cảm như người mẹ, nhưng tình cha luôn ấm nồng như vầng thái dương của cuộc đời con.

“Con có cha như nhà có nóc,

Con không cha như nòng nọc đứt đuôi”.

“Khôn ngoan nhờ ấm ông cha,

Làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ”.

“Đạo làm con chớ hững hờ,

Phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm”.

“Còn cha gót đỏ như son,

Một mai cha chết gót con đen sì”.

Công cha là như thế, tình mẹ là như thế, luôn cao vời vợi, luôn rộng mênh mông, là người, mình đừng bao giờ bỏ quên phận sự làm con phải biết báo đền ơn sinh dưỡng. Tuy không là bao so với ân tình cha mẹ đã bỏ ra nhưng cũng là tấm lòng hiếu thuận của người con.

“Mẹ già ở túp lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con”.

“Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”.

“Đói lòng ăn đọt chà là,

Nhịn cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”.

“Đói lòng ăn trái ổi non,

Nhịn cơm cho mẹ, cho tròn nghĩa xưa”.

“Dấn mình gánh nước làm thuê,

Miễn nuôi được mẹ quản gì là thân”.

“Vô Chùa thấy Phật muốn tu,

Về nhà thấy mẹ, công phu chưa đành”.

“Nuôi con chẳng quản chi thân,

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,

Lấý gì đền nghĩa khó khăn,

Lên non xắn đá, xây lăng phụng thờ”.

“Đây bát cơm đầy nặng ước mong,

Mẹ ôi, đây ngọc với dây lòng.

Đây tình con nặng trong tha thiết,

Ơn nghĩa sanh thành, chưa trả xong”.

Đó là một số ít trong vô số câu ca dao, tục ngữ đề cập đến ân sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và truyền thống hiếu thảo của con người Việt Nam trong tinh thần của dân tộc. Qua đó, chúng ta thấy rằng, truyền thống hiếu thảo là một truyền thống đã đi sâu vào tâm trí của mỗi con người Việt Nam, dù ở xa xứ hay tại quê hương cũng đều hướng về ngày Vu Lan để đáp nghĩa song thân. Hỵ vọng với chút tấm lòng, xin hướng về những bậc cha mẹ như là món quà để dâng lên các bậc song thân

(Phong Vũ)

Cái Xác Chết

Chúng ta thường nghe nói câu “chúng sanh bị trầm luân trong biển khổ luân hồi”. Như vậy có nghĩa là mỗi một chúng ta (ngủ uẩn) đều đã chết không biết bao nhiêu lần và sẽ chết cũng không biết bao nhiêu lần nữa. Vì sao mà chúng ta mãi bị trầm luân trong cái bể khổ đó? Chẳng qua vì chúng ta còn quá nhiều tham vọng, quá nhiều sân hận và si mê, coi nặng cái tôi này, coi cái tôi này là của mình. Nhưng muốn ra khỏi cái bể này cũng rất khó nhọc chứ không phải dễ dàng.

Những vị Thinh Văn đã đắc quả vị A-La-Hán trong thời Đức Phật còn tại thế không phải chỉ nghe Đức Phật nói vài câu là đắc quả, các vị ấy cũng đã tu hành trong vô số kiếp rồi và chỉ cần nghe Đức Thế Tôn chỉ dạy thêm vài điều nữa để hoàn tất con đường tu hành. Còn phàm nhân như chúng ta đây, là loại mà Đức Phật xếp vào hạng nhị nhân, là hạng người, khi tái sanh, thiếu một trong ba nhân vô tham (xả ly), vô sân (từ tâm), vô si (trí tuệ). Người nhị nhân không bao giờ có thể chứng thiền định và đạo quả được vì không đủ ba nhân đó. Chúng ta phải suy nghĩ và tự biết sức mình chỉ đến mức đó, nhưng đừng vì thế mà nản lòng. Chúng ta nên cố gắng thực hành những lời dạy của Đức Thế Tôn qua sự chỉ dẫn của Chư Tăng để gieo duyên lành từ đó trong vô số kiếp luân hồi, cái phước tích trữ càng ngày càng tăng cho đến khi có một vị Phật mới ra đời, duyên lành chín mùi, thì họa chăng lúc đó được nghe Ngài chỉ dạy, hành theo sẽ đắc quả. Pháp của Đức Phật thì quá nhiều, nhưng vì là người chậm hiểu, mau quên, không thể ôm đồm hết, vì vậy chúng ta nên chọn hay nói cách khác là rút tỉa điều gì hợp với mình để thực hành, để gieo duyên lành. Một trong những cách đó là tự cho mình là cái xác chết.

Người phàm chúng ta rất coi trọng cái xác thân này. Vì nó mà chúng ta gây ra không biết bao nhiêu ác nghiệp. Càng có học, càng có địa vị thì càng tự cao tự mãn, không xem ai ra gì; không học nhiều thì lại tự ti. Nhưng có học hay không đi nữa  cũng đều là ổ kiến lửa, ai động đến thì túa ra cắn, bất kể. Chúng ta có nghe pháp đó, có biết là khối thịt này và khối thịt kia cũng đều giống nhau, không có gì khác, nhưng cũng chẳng bao giờ hành theo, vẫn mãi cho cái ta này là quan trọng.

Cái xác chết là gì? Cái xác chết là cái xác đã không còn thở nữa, da đã xuống màu sậm đen, không còn hồng hào vì mất máu, ghê gớm và xấu xí. Cái xác này cứng đờ, không còn thấy được, không còn nghe được, không còn ngửi được, không còn nếm được, không còn biết được. Nó không còn buồn vui, thương ghét, thích hay không thích nữa. Khi nghe Pháp, chúng ta biết được suốt cuộc đời chúng ta chung quy chỉ có hai việc là thích hay không thích mà thôi, hay nói gọn đi là trong một ngày, từ những hành động đến lời nói và ý nghĩ của chúng ta toàn là về những điều mình thích hay không thích. Nhưng thích hay không thích đều tạo ra nghiệp, thiện hay ác tùy theo, nhưng phần lớn là ác nghiệp. Vì vậy để cho ác nghiệp bớt sanh khởi, chỉ còn cách là tự cho mình là cái xác chết. Tự cho mình là cái xác chết không phải để chúng ta trở nên một con người tiêu cực, ngoan cố, trơ trơ lì lợm, cam chịu với số phận, phó mặc cuộc đời. Mà làm cái xác chết là để cho chúng ta bớt bám víu vào cái xác thân này. Không bực bội khổ sở khi thấy nó càng ngày càng già nua xấu xí, tóc bạc, nhăn nheo. Bớt nổi nóng khi nghe câu nói phật lòng. Không quá vui khi được khen tặng. Bớt buồn khổ khi gặp việc trái ý. Bớt ganh tỵ khi thấy người ta hơn mình. Bớt bỏn xẻn khi thấy người khác cần sự giúp đỡ. Bớt đau khổ khi bị đau ốm, bệnh hoạn… Ý nghĩ là cái xác này giúp cho chúng ta trở nên một con người tích cực hơn,hăng hái hơn, tinh tấn hơn để giúp cho bản thân mình an lạc và phục vụ tha nhân. Làm cái xác chết còn giúp cho chúng ta nghĩ đến cái chết mỗi ngày và giúp chúng ta bớt sợ chết nhiều hơn trước.

Nhưng muốn nghĩ mình là cái xác chết cũng là một việc cam go, phải tập tành từ từ, mỗi ngày một chút một chút. Nhưng việc làm nào cũng vậy, đều cần đến sự tinh tấn và nhẫn nại thì mới thành công. Pháp của Đức Phật là “Thiết thực hiện tiền, đến để chứng nghiệm, vượt ngoài thời gian, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng” là Ngài dạy cách như vậy, nhưng chính chúng ta phải tự thực hành để đạt kết quả, không ai có thể làm cho chúng ta được. Vì vậy hãy cố gắng, hết sức cố gắng. Hãy mượn một lời nói của Sư là “Quý vị làm đi, quý vị làm thử đi” thì chúng ta sẽ được an lạc.

Nguyện công đức đã làm
Kết duyên lành giải thoát
Đệ tử và chúng sanh
Đồng viên thành chánh giác

Lá Me Trên Dòng Nước

Lớp Thể Dục Dưỡng Sinh

Mỗi chiều Chủ Nhật từ 3giờ đến 5 giờ ở Hội Trường Chùa Phật Pháp có 1 lớp thể dục dưỡng sinh với sự hướng dẫn của chị Kim Bằng, chị Điệp, anh Đôn, và anh Sơn.

Lớp hoàn toàn miễn phí dành cho tất cả quí đồng hương và bạn hửu, muốn giử gìn sức khỏe bằng phương pháp vận động tay chân, đễ giảm bớt chi phí giử gìn sức khỏe bằng tiền khám bệnh và mua thuốc men.

Lớp thể dục dưỡng sinh nếu nói cho đúng và đủ là: “lớp Tài Chi tổng hợp Càn Khôn Thập Linh”, mới nghe qua chúng tôi cứ tưởng ngay tới các võ công của môn phái võ hiệp như Ngũ Trão thần công, Lục Mạch thần kiếm, Thiên Long Bát Bộ…v…v…ở các thời thanh xuân chúng tôi đã đọc rất nhiều trong các pho truyện võ hiệp kỳ tình của Kim Dung được dịch sang tiếng Việt.

Thật ra để giản dị hoá, đó là 10 thế tập giúp cơ thể vận động hòa hợp giữa thân và tâm, hít thở điều hòa, đưa khí đến khắp nơi trong cơ thể tạo năng lượng tăng sức khỏe.

Mười thế tập gồm có 2 thế Càn và Khôn tượng trưng cho Trời và Đất, 8 thế còn lại là các động tác hình dung theo sự chuyể động của các con vật: cóc, trâu, cò, cọp, hạc, rồng, bướm, rùa. Các chuyển động này đều có tác dụng lên mỗi trung tâm năng lượng ở trong cơ thể mình, dọc theo cột sống từ đốt xương cụt cuối cùng lên đến đỉnh đầu, từ đó giúp cho các bộ phận ở vị trí tương ứng được thức tỉnh hoạt động điều hòa phát triển chức năng, tạo ra sức mạnh giúp cơ thể dần dần lấy lại sức khoẻ bình thường. Phòng chống bệnh tật không có gì tốt hơn là giữ chế độ ăn uống lành mạnh, hợp cho từng cơ thể và gắng tập thể dục thường xuyên, nhất là tập được miễn phí thì thật là qúa “khỏe” trong thời buổi kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, và bệnh sầu đời gia tăng, phải không thưa qúi bạn?

Ngày đầu mới mở lớp cuối tháng Hai 2010 đến nay có hơn 20 học viên tuổi từ 18 đến 73, hầu hết là qúi vị ở St. Petersburg, đặc biệt có chị Yến ở Orlando lúc nào về St. Petersburg thăm thân nhân cũng hăng hái đến dự lớp thể dục, và chị Phương Lan làm việc cuối tuần ở bệnh viện, tuy vậy hôm nào được nghỉ Chủ Nhật chị cũng cố gắng đến tập, đó là 2 học viên “thấp thoáng” của lớp. Riêng chị Kim Loan còn siêu đẳng hơn, ở tận Lakeland đi vào thêm 2 dặm nửa lái xe gần 1 tiếng mới đến Chùa, đôi khi còn lạc đường dù xe có gắn GPS chỉ dẫn, vẫn yêu đời đến lớp đều đặn. Chúng tôi gọi chị là trưởng lớp để tán dương tinh thần hăng hái tập luyện và ưu ái trao bổn phận học thuộc khẩu quyết cho chị. Khẩu quyết là các câu nói ngắn gọn vừa diển tả động tác của tay chân, vừa có ý nghĩa thức tỉnh tâm thức dể tu tâm.

Mỗi khi bắt đầu tập anh Sơn hỏi chị Loan nhắc lại dùm khẩu quyết, thì chị Loan gải tai, xoa tay: – ối giời ơi, chờ tôi 1 tí nhé, tôi phải lấy giấy ra xem mới nhớ được thầy ạ; chị vội vàng bước ra lục trong túi xách tìm.

Anh Hiệp nhắc:

- chị phải cẩn thận giử kỷ đừng để môn phái khác đánh cắp bí kíp võ môn của phái mình đó.

Các buổi tập đều đặn trong không khí vui vẻ với sự chỉ dẫn tận tình của các anh chị huấn luyện viên, tạo một tâm tư tốt đẹp cho mọi người.

Hôm học thế con cọp, anh Sơn hướng dẫn:

- Hôm nay chúng ta qua thế mới là con cọp, thế này giúp cho trung tâm năng lượng ở vùng cổ, làm tốt thanh quản, khí quản…

Anh Nhân mừng rở:

- Ồ hay quá, tôi phải tập giỏi thế con cọp này để đối phó lại thế con sư tử mà bà xả tôi xử dụng    với tôi mỗi ngày ở nhà

Cả lớp cười thoải mái và bắt đầu cho thế mới khó hơn, vẫn kiên trì tập 15 lần

Qua buổi tập thế con rồng, chị Kim Bằng bảo:

- Ở thế con rồng, các anh chị luôn luôn giử 2 đầu gối khuỵ xuống, chụm vào nhau như dạng giử tời giấy bạc 100 đồng vậy.

Sau khi tập anh Sơn có nhận xét:

- Cả lớp tập rất đều đặn, riêng anh Hinh lúc mọi người đứng lên bay, thì anh vẩn còn cúi xuống?

Anh Hinh trả lời:

- Thưa thầy, tôi phải cúi xuống để coi có ai rớt tờ 100 đồng không ạ!

Lúc tập thế con trâu, chị Kim Bằng nhắc:

- Đưa 2 tay ra đẩy trừ phiền nảo

- Rủ 2 tay xuống buông xả vạn duyên, cũng như buông bỏ bớt, đừng chấp gì, càng bỏ bớt càng đở phiền muộn, càng buông xả càng tốt…

Chị Vinh:

- Thưa cô, chừng nào cô buông xả tòa biệt thự của cô, nhớ kêu tụi em tới nhen.

Lúc khởi động ở vùng cách mô, sườn, Chị Kim Bằng nói:

-Động tác này giống như lau trần nhà, hai tay thẳng lên trời, mắt ngước lên, xoay mình ở vùng bẹ sườn. À anh Chất mới vào lờp 1 hôm mà anh tập rất đúng, uyển chuyển hay quá.

Chị Hồng:

- Dạ, chắc ở nhà anh được vợ giao công việc lau trần nhà mỗi ngày.

Đến lúc tập thế con bướm, anh Sơn làm mẫu:

- Thế này giúp nảo bộ vận động tốt giúp ích rất nhiều cho qúy vị cao niên có trí nhớ dai, đầu tiên là đưa thẳng 2 tay ra như xin tiền, phơi trần điểm mù vậy đó.

Chị Vinh:

- Thưa thầy nếu xin tiền thì là phơi trần điểm nghèo chứ.

Anh Sơn tiếp:

- Rủ 2 tay xuống, buông xả chấp trước, đưa thẳng 2 tay lên trời ngước mặt lên, mở rộng tầm nhìn…

Chị Loan:

- Ối giời, nhìn cứ như là xin được tiền rồi mừng quá nhỉ!

Còn anh Hiệp lại nói:

- Đưa 2 tay lên trời than thở xài hết tiền rồi!

Thật là 1 lớp dưỡng sinh đầy tính thực tế. Sau 1 tiếng rưởi vận động, còn lại 30 phút nghỉ ngơi. Mọi người nằm thẳng xuống thảm, nhắm mắt yên lặng như chìm vào long đất, mọi thứ trên đời tan biến đi, phiền nảo, bệnh tật, khổ đau dần dần thấm vào đất để tâm than nhẹ nhàng. Từ đjó lắng nghe luồng sanh khí mới êm ả, từ từ trổi dậy trong cơ thể khi tiếng chuông của huấn luyện viên gõ để thức tỉnh cả lớp trở về lại thế giới hiện tại. Năm ba phút ngồi tĩnh lặng, hồi hướng đến tất cả mọi người trên trái đất này tất cả niềm vui và năng lực của mình đã có sau khi tập dưỡng sinh. Lớp học sau những phút vui vẻ “phụ đề Việt ngử nhìn huấn luyện viên làm mẫu là những phút tập nghiêm chỉnh, hít thở nhịp nhàng gắng làm các động tác theo tư thế cần phải có. Tuy nhiên với các vị lớn tuổi như chúng tôi không bắt buộc phải cố gắng quá sức, cứ từ từ mà tập được đến đâu hay đến đó, việc dưỡng sinh cần đều đặn, tích tiểu thành đa, cơ thể xương cốt phải có thời gian để dần dần thích nghi.

Qua hơn 7 tháng tập đều đặn, kết qủa rất đáng mừng trông thấy: chị Nhạn bớt mỏi đầu gối, làm động tác cong đầu gối không còn đau như trước, chị Vinh giảm đau lưng, có thể ngồi nhổ cỏ trồng rau dể dàng, chị Hương thì thấy tâm an lạc, tự tin can đảm và không lo sợ vẩn vơ như khi mới hắt hơi sổ mủi cứ tưởng mình bị bịnh nặng. Còn chị Loan có thể co giản dể dàng hơn “bàn tay 5 ngón em vẫn kiêu sa”. Riêng anh Hiếu, 1 trong 3 học viên trẻ tuổi nhứt lớp đã có kết qủa vượt bực. Hôm học thế lạy Yoga lần đầu 15 cái, Hiếu đã thở không ra hơi, phải nằm nghỉ làm cả lớp lo ngại, nhưng tuổi trẻ tài cao, cho nên hôm cuối tháng 10, cùng ba mẹ đi dự pháp hội Địa Tạng và thiền dưỡng sinh ở Virginia anh Hiếu đã lạy 100 cái không hề hấn gì! Được kết qủa như trên một phần do học viên chăm chỉ đến lớp đều, nhưng phần lớn là công lao của ban giảng huấn. Như đã giới thiệu, các anh chị đều có kinh nghiệm tập luyện nhiều năm và qua các khóa đào tạo chuyên ngành để có khả năng hướng dẩn cho chúng ta tập đúng tư thế, đó là các anh chị: chị Diệp, hiền thê của anh Sơn, anh Đôn con trai chị Kim Bằng đã đến với lớp trong tinh thần tự nguyện, từ bi phụng sự. Lớp học có học viên trẻ tuổi thì cũng có anh Đôn “đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi” hướng dẫn, rất hiền lành và kiên nhẫn, lại còn biết nói tiếng Việt!! vừa đủ để truyền đạt càn khôn thập linh bí quyết võ công. Các anh chị ở tận Tampa không quản ngại “đường xa ướt mưa ngăn sông cách biển” phải lái xe 1 tiếng , qua cầu gío bay mới tới Chùa, rồi 2 tiếng để tập, vừa múa vừa hò: hít vô thở ra đếm tới 20, 30 lần. Sau đó cần 1 tiếng đồng hồ nửa mới về lại nhà, thử hỏi, ai có can đảm thực hiện nếu không có lòng vị tha giúp người vô vị lợi giống như anh Sơn mặc chiếc áo có in mấy chử “hoan hỉ làm, cam tâm chịu”.

Sau mỗi buổi tập, trên nét mặt hồng hào, mồ hôi nhễ ngại, tóc dính vào trán, mọi người đều vui vẻ hỏi han nhau vài phút trước khi chia tay, có hôm chị Lan tặng mỗi người 1 bao chanh tươi mới hái, chị Kim Loan và anh Nhân lại làm bánh ngọt đem đến cho cả lớp thưởng thức tài khéo tay hay làm. Có thể nói ngôi Chùa Phật Pháp như là 1 mái ấm của người Việt tha hương, cứ mỗi Chủ Nhật, buổi sáng đến chùa trong lúc các cháu nhỏ dự lớp học Việt ngử, thì chúng ta có thể vào bếp phụ giúp ban Trai Soạn, hoặc ra sân dọn dẹp vận đông

11 giờ dự lễ Trai Tăng

11:30 Phật tử dùng cơm chay do chùa khoản đải

12 giờ lên Chánh Điện dự khóa kinh an lành

12:30 nghe Đại Đức Trụ Trì Trí Tịnh giảng kinh Pháp Cú. Đó là những câu kệ ngôn thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế hướng dẫn chúng ta mở mang trí tu và biết sống với thiện Pháp.

Từ 1 giờ đến 3 giờ là lớp Anh ngử cũng hoàn toàn miễn phí

Từ 3 giờ đến 5 giờ là lớp thể dục dưỡng sinh.

Chúng con rất biết ơn Chư Tăng đã hết lòng chăm sóc đến cuộc sống của chúng con về mọi mặt được phát triển đồng đều, tâm và thân được coi trọng như nhau, thân có khỏe thì tâm mới an mà tu học các hạnh lành. Là 1 thành viên của lớp thể dục dưỡng sinh và cũng là Phật tử của chùa Phật Pháp chúng tôi kêu gọi các bạn trẻ và qúi vị cao niên có ý thích vận động thể dục, chăm lo sức khỏe cứ mạnh dạn vui vẻ gia nhập lớp, chùa Phật Pháp luôn luôn đón chào qúi bạn. Đến với lớp Càn Khôn Thập Linh cùng nhau rèn luyện: “1 tinh thần minh mẫn trong 1 thân thể tráng kiện” như lời Phạt dạy: “chúng sanh vô bệnh sống lâu”.

Huệ Quang
(11- 30 – 2010)